QTO - Ít nơi nào trong chiến tranh lại có một thế trận đặc biệt như Quảng Trị: Vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương; mà ngay phía sau tuyến lửa ấy lại có những vùng hậu phương nối tiếp nhau. Vĩnh Linh trở thành hậu phương trực tiếp của chiến trường Quảng Trị, còn Quảng Bình ở phía sau gánh thêm trọng trách chi viện cho cả Vĩnh Linh và tiền tuyến miền Nam. Trong bom đạn, những vùng đất ấy đã nối thành một thế trận vững chắc, bền bỉ tiếp sức cho tiền tuyến đi đến ngày toàn thắng.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc thắng lợi, Hiệp định Geneva về Đông Dương được ký kết (21/7/1954). Theo hiệp định này, nước Việt Nam tạm chia thành hai miền Bắc- Nam, lấy vĩ tuyến 17 và sông Bến Hải chạy ngang qua địa phận Vĩnh Linh làm đường giới tuyến quân sự tạm thời chờ ngày tổng tuyển cử thống nhất đất nước.
Ngày 28/5/1955, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 16-NQ/TW thành lập Đảng ủy Khu Vĩnh Linh, ngang với đảng ủy cấp tỉnh và trực thuộc trung ương, với hơn 3/4 diện tích tự nhiên của Vĩnh Linh nằm ở phía Bắc sông Bến Hải giới tuyến. Từ năm 1965, Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, Vĩnh Linh trở thành địa đầu giới tuyến của miền Bắc XHCN, cửa ngõ và hậu phương trực tiếp của chiến trường miền Nam, vì vậy Vĩnh Linh là nơi tập kết cuối cùng về quân cụ, lương thực, thực phẩm tiếp tế cho chiến trường miền Nam.
![]() |
| Đường 12A hôm nay, tuyến đường chi viện chiến trường miền Nam xưa - Ảnh: L.P |
Khi trên chiến trường Bắc Quảng Trị ngày càng quyết liệt, Vĩnh Linh còn tiếp lương, tải đạn từ ngoài vào và đưa thương binh, tử sĩ từ trong ra. Nên cuối năm 1965 huyện Vĩnh Linh thành lập một trung đoàn, mỗi xã thành lập một trung đội luôn sẵn sàng phục vụ tiền tuyến. Lương thực, thực phẩm, đạn dược đều được tập kết dưới các đường hào và ở một số điểm bí mật sát bờ Bắc sông Bến Hải, chờ đêm xuống là chuyển sang bờ Nam. Sau đó đưa thương binh, tử sĩ sang bờ Bắc ở các bến đò Tùng Luật, Vĩnh Tiên…
Nhiều tài liệu cho biết có thời kỳ mỗi xã ở Vĩnh Linh vận động mỗi tổ phụ lão và các mẹ trồng riêng một đám rau, nuôi mỗi người một con gà để cung cấp cho chiến trường Quảng Trị, tiếp nhận đồng bào Gio Linh và Cam Lộ ở Nam sông Bến Hải sơ tán ra Vĩnh Linh khi ta đánh ác liệt hơn. Ban Chấp hành Đảng bộ Khu Vĩnh Linh xác định: “Vĩnh Linh có trách nhiệm đùm bọc, nuôi dưỡng đồng bào tỉnh nhà, giúp đỡ bà con về mọi mặt từ việc ăn, ở đến việc chăm sóc, động viên về mặt tình cảm, đau ốm…”.
Với tinh thần “Tất cả vì miền Nam ruột thịt, vì Quảng Trị thân yêu”, Vĩnh Linh đã đóng góp hơn 150.000 ngày công phục vụ chiến đấu ở chiến trường Bắc Quảng Trị (Nam sông Bến Hải). Đón nhận và chăm sóc thương binh bệnh binh, cung cấp nhu cầu thiết yếu cho đời sống của Nhân dân Gio Linh, Cam Lộ sơ tán ra… Vĩnh Linh cũng là điểm tập kết cuối cùng vũ khí, lương thực, thực phẩm, nhân lực… trước khi vận chuyển cho chiến trường.
![]() |
| Dân công hỏa tuyến Quảng Bình vận chuyển hàng hóa chi viện chiến trường miền Nam - Ảnh: Tư liệu |
Trong 43 ngày tranh thủ Mỹ ngừng bắn nhân lễ Giáng sinh năm 1967, Vĩnh Linh đã nhận và chuyển hơn 2.470 tấn hàng hóa. Năm 1970 chuyển 9.857tấn, trong đó 1/3 cho chiến trường miền Nam. Phục vụ chiến dịch giải phóng Quảng Trị (năm 1972), Vĩnh Linh huy động 8.000 dân công nối liền Quốc lộ 1, bắc cầu phao qua sông Bến Hải cho xe pháo lớn vào Nam.
Vĩnh Linh cùng Đoàn 559, Quân khu 4 và thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến Quảng Bình vận chuyển cho chiến trường 16.020 tấn hàng. Riêng năm 1972, Vĩnh Linh đã huy động 150.000 ngày công phục vụ chiến đấu ở bờ Nam sông Bến Hải.
Ngày nay, sau khi sáp nhập tỉnh Quảng Bình (cũ) và Quảng Trị (cũ) thành tỉnh Quảng Trị (từ ngày 1/7/2025), trên vùng đất của huyện Vĩnh Linh giới tuyến trước đây, có các xã mới gắn với một thời chiến tranh: Xã Bến Hải (sáp nhập xã: Trung Hải, Trung Giang và Trung Sơn), xã Vĩnh Linh (sáp nhập từ các xã: Vĩnh Long, Vĩnh Chấp và thị trấn Hồ Xá).
![]() |
| Nơi trọng điểm bến phà Long Đại xưa, nay là tuyến cao tốc Bắc-Nam chạy qua - Ảnh: L.P |
Địa bàn phía Bắc của tỉnh Quảng Trị ngày nay là vùng đất Quảng Bình trước đây. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Quảng Bình là hậu phương trực tiếp của chiến trường Trị-Thiên-Huế và hậu phương lớn của Vĩnh Linh… hậu phương. Là vùng đất của khẩu hiệu “Xe chưa qua nhà không tiếc”, “Vì Trị-Thiên ruột thịt, không tiếc máu tiếc xương”, “Gởi về Trị-Thiên tấm lòng sắt son”… để chi viện cho tiền tuyến và Vĩnh Linh lương thực, vũ khí, nhân lực phục vụ chiến trường, tiếp đón Nhân dân Vĩnh Linh, Gio Linh sơ tán ra…
Trước tình hình cách mạng mới, phong trào kết nghĩa Bắc-Nam được thực hiện. Năm 1959, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế kết nghĩa. Tiêu biểu là Sư đoàn 325 đứng chân trên đất Quảng Bình, hợp thành từ Trung đoàn 101 (Thừa Thiên-Huế), Trung đoàn 95 (Quảng Trị), Trung đoàn 18 (Quảng Bình), mở Nông trường Phú Quý cho cán bộ Trị-Thiên tập kết an cư.
Khi mở đường dây 559 (đường mòn Hồ Chí Minh), Vĩnh Linh và Quảng Bình là nơi đưa những chuyến hàng đầu tiên vào miền Tây Trị-Thiên. Đầu tháng 7/1959, chuyến hàng đầu tiên được bí mật chuyển từ Làng Ho (Lệ Thủy) đến tập kết ở Khe Hó (Vĩnh Linh). Ngày 20/8/1959 chuyến hàng đầu tiên từ Khe Hó bí mật vượt vĩ tuyến 17 tới Tà Riệp an toàn, chi viện cho Liên khu 5.
Tháng 6/1966, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng mở Mặt trận đường 9-Bắc Quảng Trị (B5), Quảng Bình và Vĩnh Linh trở thành hậu phương trực tiếp của B5, chia lửa với đồng bào Trị-Thiên. Quảng Bình cùng Vĩnh Linh ra sức làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn với tiền tuyến lớn.
![]() |
| Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ hy sinh ở Bến phà Long Đại - Ảnh: L.P |
Trước hết, Quảng Bình chi viện lực lượng từ Công an nhân dân vũ trang (D67) để bảo vệ an ninh vùng mới giải phóng ở Gio Linh, Cam Lộ. Từ đây xuất hiện câu khẩu hiệu: “Vì Trị-Thiên ruột thịt, không tiếc máu tiếc xương”. Từ năm 1968, Quảng Bình trực tiếp chi viện vũ khí cho các lực lượng chiến đấu ở mặt trận phía Đông Quảng Trị.
10 thuyền hàng đầu tiên (72 người) xuất phát từ xã Cảnh Dương (nay là xã Hòa Trạch) vượt biển vào chiến trường miền Nam, nhưng chỉ có 4 thuyền qua vòng vây của địch đưa hàng đến nơi quy định. Tháng 11/1968, chiến dịch vận tải mang mật danh VT5 được tiến hành. Trong 3 tháng, Quảng Bình huy động hơn 60.000 ngày công, tiếp nhận và chuyển giao hơn 132.000 tấn hàng cho chiến trường.
Sau Tết Mậu Thân 1968, trên chiến trường Trị-Thiên, Mỹ-ngụy phản kích, đánh phá quyết liệt đường chi viện từ miền Bắc vào, khiến bộ đội và Nhân dân một số vùng ở Trị-Thiên thiếu đói nghiêm trọng. Quân khu Trị-Thiên yêu cầu chi viện khẩn cấp.
Quảng Bình đã thực hiện khẩu hiệu: “Trút gạo trong nồi cho Trị-Thiên đánh Mỹ”, “Dù phải ăn cháo ăn rau vẫn tiếp tục chi viện cho miền Nam. Kiên quyết giữ vững mạch máu giao thông vận tải nối liền hai miền Nam-Bắc” … Tỉnh ủy Quảng Bình đã đưa ra cách vay thóc gạo của dân, các cấp, các ngành và người dân ăn bữa cháo, bữa cơm để góp gạo cho Trị-Thiên, sau 2 tháng đã góp được hơn 2.600 tấn gạo gửi vào chiến trường. Đón tiếp gần 1.000 người từ Vĩnh Linh và Nam sông Bến Hải ra an dưỡng.
Từ tháng 8/1967, Quảng Bình góp phần đưa hơn 30.000 đồng bào Vĩnh Linh sơ tán ra các tỉnh phía Bắc theo kế hoạch K8, K10, trong đó có 2.336 người dân Gio Linh chạy ra từ tháng 5/1967. Tháng 4/1972, các xã ở Lệ Thủy cũng đón tiếp, sắp xếp nơi ăn chốn ở cho 3.654 đồng bào Quảng Trị ra sơ tán ra.
Ngày 31/1/1971, Mỹ-ngụy mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 (Đường 9-Nam Lào). Quảng Bình huy động gần 7.000 bộ đội, thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719. Năm 1972, chuẩn bị cho các đợt tiến công lớn giải phóng Quảng Trị, Quảng Bình huy động 1.086 dân công hỏa tuyến, lập đội vận tải ô tô 19 chiếc chở hơn 90.000 quả đạn pháo các loại vào mặt trận. Hơn 4.000 dân công Quảng Bình luôn theo sát các mũi tiến công và phục vụ bộ đội chiến đấu.
Cùng với tuyến chi viện chiến trường của Bộ đội Trường Sơn, từ năm 1959 đến ngày thống nhất đất nước (30/4/1975), Nhân dân Vĩnh Linh-Quảng Bình trước đây và chung tỉnh Quảng Trị hôm nay, đã hoàn thành trọng trách hậu phương của mình.
Lam Phương
>>> Bài 2: Khi hậu phương cũng là chiến trường












