QTO - Tháng tám mùa thu này là kỷ niệm 105 năm ngày sinh cha tôi-Lê Quang Đạo, nguyên Chủ tịch Quốc hội, nguyên Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQVN. Ông từng làm Chính ủy Bộ Tư lệnh 500 của vùng cán xoong thời chiến tranh khốc liệt.
Cuối tháng 3/1968, địch ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra. Nhưng dải đất hẹp từ bờ Nam sông Lam đến Vĩnh Linh-vùng cán xoong-cửa ngõ duy nhất nối hậu phương miền Bắc với đầu vào của Đoàn 559 bị đánh phá dữ dội gấp nhiều lần. Hàng nghìn ô tô không thể vượt ngã ba Đồng Lộc, ngã ba Khe Ve.
Tiếp tế bị gián đoạn, một số đơn vị chủ lực thiếu đạn, thiếu gạo phải rút về phía sau. Lương thực cạn kiệt nghiêm trọng, nhiều nơi chỉ có cháo ăn. Trước tình thế cấp bách, Quân ủy Trung ương thành lập Bộ Tư lệnh 500, để khôi phục tuyến vận chuyển ở vùng cán xoong.
Tháng 10/1968, cha tôi ra Bắc sau 1 năm làm Chính ủy Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh. Tại đây, ông đã thoát trận bom B52 đánh trúng khu Bộ Tư lệnh. Mẹ tôi-nhà văn Nguyệt Tú, quê Hà Tĩnh, nhớ lại: “Bố mới về hơn tuần lễ, lại chuẩn bị đi chiến dịch. Mẹ vừa lo bom đạn, vừa lo sức khỏe của bố. Nhưng bố nói: “Công việc rất gấp, anh trẻ hơn cả, cần phải đi. Lại có dịp về quê “ở rể””. Hai tuần sau khi ra Bắc, ông quay lại làm Chính ủy Bộ Tư lệnh 500, lần đầu trực tiếp lãnh đạo công tác hậu cần.
![]() |
| Chủ tịch Quốc hội khóa VIII Lê Quang Đạo - Ảnh: Q.T |
Trước khi cha tôi lên đường, Bác Hồ gọi ông lên ăn cơm riêng. Bữa ăn đạm bạc, chỉ có vài lát thịt lợn nạc thái mỏng, một bát canh rau cải, một chén con nước mắm, mấy quả cà muối và hai quả chuối.
Ngày đầu tháng 11/1968, ngay khi địch ngừng ném bom miền Bắc, cha lập tức lên đường. Ngày 8/11/1968, ông có thư về: “…Nhân dân, cả thanh niên nam nữ, già trẻ đổ ra sửa chữa đường, cầu như trẩy hội. Anh dũng vô cùng, vĩ đại vô cùng…”. Cảnh tượng khơi dậy ký ức Cách mạng Tháng Tám ở Bắc Giang… Sân vận động ngập tràn cờ đỏ sao vàng, tiếng hô khẩu hiệu vang dội. Trên lễ đài, ở tuổi 24, Lê Quang Đạo, Chính trị viên Chi đội Giải phóng quân Bắc Giang đứng duyệt diễu binh.
Tuy vũ khí thô sơ như súng kíp, mã tấu, giáo mác và một số súng trường nhưng đoàn chiến sĩ bước đi hiên ngang, khí thế quyết tử áp đảo kẻ thù… Ngẫm lại, Nhân dân là cội nguồn của sức mạnh, ông tự nhủ.
Sau vài ngày tạm ngưng, vùng cán xoong bị ném bom trở lại, khốc liệt hơn. Vừa tới nơi, trong lúc công binh mở lại đường đã bị san phẳng, Chính ủy Lê Quang Đạo đưa ra hai đột phá: Huy động tổng lực dân công, thanh niên xung phong, từ các o ở Hà Tĩnh đến các mệ ở Quảng Bình, Vĩnh Linh để vận chuyển. Mở chiến dịch "Xăng quý hơn máu" để tạo mạng vận chuyển phân đoạn. Hàng hóa được chia nhỏ, đóng vào phuy, can hoặc bao nylon, rồi gùi, thồ, gánh, vác bộ để “chuyển dịch” từng bao gạo, thùng xăng qua đường mòn, theo lòng suối, xuyên rừng, vượt "nút thắt cổ chai”. Hình ảnh này gợi nhớ cảnh hàng ngàn xe đạp thồ ở Điện Biên Phủ năm xưa. Hồi đó, vừa qua tuổi 30, ông là Phó Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận kiêm Quyền Chính ủy Sư đoàn 308.
Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, Tư lệnh Đoàn 559, nhớ lại: “Anh Đạo điện cho tôi, nhẹ nhàng nhưng rất thuyết phục: "Phải cần một thời gian để hai bên giúp nhau khắc phục bằng được. Nhưng trước mắt phải gùi thồ xăng dầu sang cho anh". Lượng xăng dù ít nhưng việc này đã tạo nên sức động viên mạnh mẽ, lan nhanh khắp tuyến 559”.
Sở Chỉ huy của Bộ Tư lệnh 500 đóng tại Hương Đô, Hà Tĩnh (tiền thân trước đó ở Minh Hóa, Quảng Bình), tại đây còn có đầu mối của Sở Chỉ huy tiền phương thuộc Tổng cục Hậu cần và Sở Chỉ huy cơ bản của Đoàn 559, tạo nên trung tâm đầu não “3 trong 1”. Hôm nay, khu vực hàng ngàn mét vuông này thành Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt.
Việt Anh, phóng viên báo Lao Động, tả lại: “Mùi bom đạn khét lẹt. Chú ý quan sát nhưng tôi không sao nhận ra người chỉ huy. Khi người cùng đi chỉ “mục tiêu”, tôi quá ngạc nhiên. Ôi! Người đeo kính trắng, thấp đậm, quần xắn móng lợn, trông vẻ thư sinh kia là Thiếu tướng Lê Quang Đạo ư?”. Bữa liên hoan tiếp phóng viên chỉ có lương khô, rau rừng nấu với muối. Ở chiến trường, chỉ huy hay chiến sĩ, đều như nhau. Khi địch đánh, ai cũng có mặt. Hết gạo, mọi người ăn cháo, hết cháo ăn rau rừng.
Cuối năm 1968 và nửa đầu năm 1969, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Khu vực Vĩnh Linh là "mắt xích" bão lửa nhất, bị địch tập trung (cả B52) đánh hủy diệt hòng chặt đứt các nhánh đường. Bộ Tư lệnh 500, do Chính ủy Lê Quang Đạo và Tư lệnh Nguyễn Đôn chỉ huy, đã hợp nhất một lực lượng hỗn hợp hiệp đồng binh chủng với quy mô rất lớn, tới hơn 3 vạn người. Toàn bộ gồm 18 tiểu đoàn ô tô vận tải, 35 tiểu đoàn công binh và pháo cao xạ, 2 tiểu đoàn đường ống được biên chế chặt chẽ thành các khối chuyên môn để vừa đánh địch, vừa mở đường, vừa vận chuyển.
![]() |
| Chính ủy Lê Quang Đạo trong Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh 1968 - Ảnh: Q.T |
Tại căn hầm chỉ huy, hai quyết sách sinh tử được đưa ra. Một là, “tạo lộ trình dã chiến”: Mở tuyến đường vòng xuyên quốc gia, từ Hà Tĩnh đi sang Lào, né dải "tọa độ chết" ở miền Trung; rồi luồn qua thung lũng hiểm trở nhập ngược vào Đường 12 ở Quảng Bình để giao hàng cho Đoàn 559. Hai là, “lật cánh chuyển loại”: Dùng xe lội nước K61 bánh xích chở xăng, đạn, thay cho ô tô bánh lốp dễ bị sa hố bùn và cõng hàng chục xe ô tô vượt ngầm sang bờ bên kia.
Đồng thời, "chuyển tải sông bến”: Dỡ hàng từ xe ô tô, giao thanh niên xung phong và dân công dùng thuyền nan, bè mảng xuyên đêm qua sông, bốc lên xe ở bờ đối diện. Đã có điều kỳ diệu: Hai tiểu đoàn kỹ thuật mật tập, lắp đặt đường ống luồn rừng và dốc đá, vượt "tọa độ chết". Xăng dầu từ hậu phương bơm thẳng vào chiến trường, không còn cảnh xe bồn “rùa bò” qua bùn lầy Khe Ve; tạo tiền đề, mở rộng thành hệ thống đường ống hàng nghìn km xuyên Trường Sơn sau này.
Khi yên tĩnh ít phút giữa các đợt bom, các trận chiến sửa đường, cha tôi thường viết thư về nhà. Có thư gửi kèm 3 quả cam: “Lần này mới thật cam sành Hà Tĩnh”. Hơn nửa thế kỷ qua đi, mỗi khi lần giở tập giấy pơ-luya mỏng tang, nhìn nét chữ tròn thân thuộc, thấm đậm lời khuyên nhủ, câu dặn dò của cha, cảm xúc từ xa xưa lại ùa về, sống động như ngày nào.
Những quyết sách xoay chuyển tình thế của Bộ Tư lệnh 500 đã khai thông nút thắt cổ chai miền Trung trong một thời gian ngắn kỷ lục, phá vỡ hoàn toàn kế hoạch "ngăn chặn từ gốc" của không quân Mỹ. Mạch máu giao thông được thông suốt. Hiệp đồng binh chủng quy mô lớn và khối lượng vận tải tăng vọt làm thay đổi cục diện vận tải chiến lược cuối năm 1968, đầu năm 1969. Bộ Tư lệnh 500 đã xuất sắc giải tỏa toàn bộ hàng vạn tấn hàng ứ đọng, lập kho dự trữ chiến lược, tạo nguồn cho vận tải cơ giới quy mô lớn của Đoàn 559 trong giai đoạn 1969-1970.
Làm việc liên tục trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt, tháng 5/1969, đang lội suối đi công tác, cha tôi đột ngột bị một cơn đau tim nặng quật ngã, phải cấp cứu về Hà Nội. Tháng 8/1969, Bộ Tư lệnh 500 hoàn thành nhiệm vụ và giải thể. Ông đã lãnh đạo suốt 7 tháng trong 9 tháng hoạt động của Bộ Tư lệnh 500. Dấu ấn của Chính ủy Lê Quang Đạo trong "gỡ nút thắt" cán xoong 1968-1969 là điểm sáng điển hình về nghệ thuật chiến tranh nhân dân trong hậu cần quân sự.
Có sự lặp lại tình cờ và kỳ diệu về “7 tháng ngắn ngủi”. Tháng 10/1945 Bác Hồ điều cha tôi về làm Bí thư Đảng Hải Phòng. Sau khi ông thành lập lại Thành ủy bị vỡ từ những năm trước, bầu cử Quốc hội khóa I thành công, tình hình mọi mặt ổn định, tháng 5/1946 Bác Hồ lại điều ông về làm Bí thư Đảng Hà Nội, chuẩn bị kháng chiến. Rồi lại “7 tháng ngắn ngủi” tiếp theo, tháng 12/1946 toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Sau 60 ngày chiến đấu “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” ông rút ra cuối cùng với các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô. Như vậy, với cả ba thời kỳ cách nhau hơn 10 năm, chỉ với “7 tháng ngắn ngủi” ông góp phần quan trọng tạo nên kỳ tích trong các hoàn cảnh hoàn toàn khác biệt.
Mỗi khi nghe kể cha tôi hút chết, thoát mật thám bắt, bom rơi trúng hay đau ốm hiểm nghèo, bà nội tôi nói: “Sẽ không sao đâu. Bố cháu là con cầu tự”. Lần này cũng vậy. Sau hơn 1 năm vừa dưỡng bệnh vừa làm việc, cha tôi lại lên đường, tiếp tục làm Chính ủy Chiến dịch Đường 9-Nam Lào 1971 và Chính ủy Chiến dịch Trị Thiên 1972.
TS. Nguyễn Quang Thắng










