QTO - Trong dòng chảy của thi ca Việt Nam hiện đại thế kỷ XX, Chế Lan Viên nổi tiếng là nhà thơ giàu chất triết luận và trí tuệ. Người ta thường nhớ đến ông với một Bình Định hoài cổ trong tập thơ “Điêu tàn”, hay một bước chuyển mình rực rỡ của hồn thơ đi từ “thung lũng đau thương ra cánh đồng vui”. Thế nhưng, ít ai biết rằng người mang triết lý và chiều sâu văn chương đi xa ấy vẫn luôn đau đáu về cội nguồn, gốc rễ.
Khúc ru nôi từ đất cội nguồn
Nhà thơ Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 23/10/1920 tại làng An Xuân, xã Cam An, huyện Cam Lộ (cũ), nay là xã Hiếu Giang, tỉnh Quảng Trị. Mặc dù phần lớn cuộc đời hoạt động văn nghệ và trưởng thành của Chế Lan Viên gắn liền với Bình Định và những đô thị lớn, nhưng dòng máu chảy trong huyết quản ông lại mang đậm vị mặn mòi của miền đất lửa Quảng Trị. Những năm tháng đầu đời của cậu bé Phan Ngọc Hoan đã kịp thấm đẫm cái nắng cháy da và gió Lào quạt lửa của miền Trung khúc ruột.
Quảng Trị trong Chế Lan Viên là cái nôi của nguồn cội gia đình, là gốc rễ tổ tiên. Cái khắc nghiệt của thiên nhiên, cái gan góc của con người vùng đất sỏi đá ấy đã nhào nặn nên một cá tính sáng tạo không lẫn vào đâu được: Mạnh mẽ, sắc sảo và luôn khát vọng vươn lên mãnh liệt từ những hoang tàn.
![]() |
| Nhà lưu niệm nhà thơ Chế Lan Viên tại làng An Xuân, xã Hiếu Giang - Ảnh: A.T |
Nỗi hoài hương giữa đôi bờ chia cắt
Từ một cậu thiếu niên 17 tuổi gây rúng động thi đàn với tập thơ “Điêu tàn”, Chế Lan Viên đã kiến tạo một hành trình dài để trở thành “người thợ dệt bài ca” cho quê hương, đất nước. Dù xa quê từ thuở nhỏ, nhưng “phù sa” của dòng sông Hiếu quê hương đã bồi đắp cho Chế Lan Viên một trí tuệ sắc sảo và một tâm hồn nhạy cảm. Trong tâm hồn thi sĩ luôn neo đậu hình bóng xóm làng, họ tộc và những ký ức về vùng quê nghèo khó với nỗi nhớ thương, khắc khoải: “Con chim đi vạn dặm/Vẫn nhớ về nhành cây”.
Trong các sáng tác của thi sĩ về Quảng Trị, có thể kể đến những tác phẩm tiêu biểu, như: “Mẹ”, “Gửi trạng Thông họ Hoàng”, “Vườn mẹ”, “Canh cá tràu”, “Một thời”, “Hai bờ Bến Hải”... Hình ảnh quê hương hiện lên bằng hoài niệm, bằng sự tự hào về sức sống mãnh liệt của vùng đất và những con người bất khuất, kiên trung. Trong những năm tháng đất nước chia cắt, quê mẹ Quảng Trị, nơi chiến tranh tàn khốc, bão lũ liên miên hiện lên trong thơ Chế Lan Viên bằng tất cả sự xót xa và niềm kiêu hãnh: “Dẫu đến chết, không bao giờ từ tạ/ Đất quê mẹ sim, mua và vạt áo vá quàng”.
![]() |
| Một số bản thảo viết tay của nhà thơ Chế Lan Viên - Ảnh: A.T |
Xuyên suốt nhiều trang viết của ông, đất và người Quảng Trị hiện lên sinh động. Người Quảng Trị hồn nhiên, dung dị, lam lũ giữa gió Lào, cát trắng; những người mẹ tảo tần sớm khuya trên vùng đất đá sỏi cằn khô nhưng luôn hào sảng, nghĩa tình: "Đá sỏi cây cằn, sao bỗng thấy thiêng liêng?/Giọng nói quen nghe, màu đất quen nhìn/Bỗng chan chứa trăm điều chưa nói hết!”.
Nhà thơ Nguyễn Hoàn, nguyên Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Trị (cũ) cho rằng: “Dù phần lớn cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Chế Lan Viên gắn liền với những miền đất khác, nhưng Quảng Trị luôn là cái nôi tâm tưởng, là dòng sông ký ức chảy mãi trong thơ ông. Mọi nẻo đường sáng tạo của người thi sĩ tài hoa này, dù có đi qua bao nhiêu “ánh sáng và phù sa” của cuộc đời, thì cái đích cuối cùng, ấm áp và vẹn nguyên nhất, vẫn là hướng về dải đất gió Lào cát trắng, vẫn tìm về neo đậu ở bến đỗ ân tình của nơi chôn nhau cắt rốn”.
Đặc biệt, trong thế giới thi ca của Chế Lan Viên, đằng sau một hồn thơ đầy những trăn trở triết lý là một trái tim yếu mềm mỗi khi hướng về bóng dáng người mẹ nơi quê nhà Quảng Trị. Người mẹ không chỉ hiện lên với “lời ru và cánh cò”, mà mẹ còn là “vị muối chát” của đất nghèo, là “ngôi nhà tranh và ánh lửa đêm”, là “dòng sông và bến đỗ”, là người thức cùng con qua những mùa chiến dịch, là biểu tượng của sự bao dung vĩnh hằng.
Năm 1949, nhà thơ, chiến sĩ Chế Lan Viên tham gia công tác tại Khu IV. Trong chuyến đi này, ông được kết nạp vào Đảng ở chiến khu Ba Lòng. Từ sự kiện “đỏ chói hồn” trong đời, nhà thơ sáng tác bài thơ “Kết nạp Đảng trên quê mẹ” vô cùng xúc động: “Giã mẹ ra đi kháng chiến bốn phương trời/Kết nạp Đảng, bỗng quay về quê mẹ!/Có phải quê hương gọi ta về đấy nhỉ?/Dặn dò ta, khuyên nhủ ta thêm/Trong buổi đầu, ta theo Đảng đi lên”.
Cô giáo Lê Thị Kim Lương, nguyên giáo viên Trường THPT Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, chia sẻ: “Tôi luôn xúc động mỗi khi bắt gặp hình bóng người mẹ trong thơ Chế Lan Viên. Người mẹ Quảng Trị trong thơ ông hiện lên với nét tần tảo, chịu thương chịu khó của người phụ nữ đất gió Lào cát trắng. Dù đi xa, đối diện với bao thăng trầm hay những triết lý nhân sinh đồ sộ, hồn thơ ông khi trở về với mẹ lại trở nên vô cùng bé bỏng và nguyên sơ”.
Giữ lửa ân tình với người “đi xa”
Di sản lớn nhất nhà thơ Chế Lan Viên để lại cho Quảng Trị ngoài những vần thơ còn là niềm tự hào đang “đơm hoa kết trái” trong trái tim của thế hệ trẻ. Ngôi trường mang tên Chế Lan Viên được xây dựng tại làng An Xuân, xã Hiếu Giang, đã và đang viết tiếp câu chuyện về một người con ưu tú Quảng Trị.
“Em cảm thấy vô cùng tự hào khi được học tập dưới mái trường mang tên nhà thơ Chế Lan Viên. Cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ Chế Lan Viên là tấm gương sáng để chúng em luôn cố gắng học tập thật tốt, sống có lý tưởng, xứng đáng với ngôi trường mang tên người thi sĩ tài hoa này”. Em Trần Cát Tường, học sinh trường THPT Chế Lan Viên, xã Hiếu Giang, xúc động nói.
![]() |
| Các em học sinh trong một buổi ngoại khóa tại Nhà lưu niệm nhà thơ Chế Lan Viên - Ảnh: A.T |
Cũng tại làng An Xuân, nhà lưu niệm nhà thơ Chế Lan Viên do Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị phối hợp với UBND huyện Cam Lộ (cũ) khởi công xây dựng và hoàn thành vào tháng 11/2020, nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà thơ. Hiện, nhà lưu niệm còn lưu giữ nhiều hiện vật gắn liền với thân thế, sự nghiệp thi sĩ Chế Lan Viên từ những tập thơ quý hiếm xuất bản qua các thời kỳ lịch sử cho đến các bản thảo viết tay đầy tâm huyết của chính tác giả.
Dù đi xa vạn dặm, nhà thơ Chế Lan Viên chưa bao giờ quên mình là người con Quảng Trị. Những năm tháng cuối đời, khi nằm trên giường bệnh, hồn thơ Chế Lan Viên vẫn không thôi đau đáu hướng về bến đỗ bình dị nơi gốc đa, bến nước làng An Xuân: “Mẹ không cho con lưỡi gươm, mẹ cho con dòng sữa/Để con đi suốt cuộc đời vẫn nhớ vị quê hương”.
![]() |
| Ông Phan Văn Vĩnh (bên trái), cháu của nhà thơ Chế Lan Viên, chia sẻ về tình cảm của bà con làng An Xuân - Ảnh: A.T |
Dân làng An Xuân luôn tự hào kể về thi sĩ - người đưa tên tuổi làng quê nghèo ghi dấu trong nền văn học hiện đại của nước nhà. Ông Phan Văn Vĩnh, cháu của nhà thơ Chế Lan Viên, ở phường Đông Hà, cho biết: “Dù nhà thơ Chế Lan Viên đã đi xa nhiều năm, nhưng mỗi lần nhắc đến ông, bà con lối xóm làng An Xuân vẫn dành một tình cảm hết sức sâu nặng đối với một người con Quảng Trị nghĩa tình, mộc mạc. Những ngày giỗ, Tết hay dịp kỷ niệm, bà con, cấp ủy, chính quyền và các thế hệ yêu thơ vẫn lui tới thắp hương, chia sẻ những kỷ niệm xưa cũ. Sự trân trọng, ấm áp của tình làng nghĩa xóm chính là niềm tự hào và nguồn động viên lớn lao đối với gia đình, dòng họ chúng tôi”.
Nhà thơ Chế Lan Viên chưa bao giờ đi xa. Ông vẫn hiện hữu trong những trang thơ và trong đời sống văn hóa của đất và người Quảng Trị.
Ánh Tuyết












