QTO - Nhà thơ Nguyễn Ngọc Khương, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Trưởng ban Văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh vừa cho ra mắt tác phẩm “Đồng dao lúng liếng”, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, năm 2026. Cuốn sách như một vé quay về "ga" ký ức tuổi thơ của Ngọc Khương.
Ngọc Khương (SN 1949), ở làng Vĩnh Phước, xã Nam Gianh. Vốn xa cha mẹ ngay từ rất nhỏ nên thuở ấu thơ ông chẳng nhớ được mặt của các đấng sinh thành. Tuổi thơ của ông gắn liền với lũ trẻ con của làng Vĩnh Phước bắt ốc, mò cua, lặn lội dưới chân cầu.
Ông lớn lên trong sự đùm bọc thương yêu, chở che của bà nội. Đến năm 1975, sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước ông mới có dịp vào đoàn tụ với gia đình ở Sài Gòn. Trong sự nghiệp văn chương, ông dành khá nhiều bài thơ và tình cảm nhớ nhung da diết khi viết về bà.
![]() |
| Tập thơ “Đồng dao lúng liếng” của nhà thơ Ngọc Khương - Ảnh: H.M.Đ |
Trong 50 năm dạy học và làm thơ, Ngọc Khương có khoảng 1.000 bài với 19 tập thơ, trong đó có 5 tập dành riêng cho thiếu nhi.
Tập thơ “Đồng dao lúng liếng” gồm có 38 bài, đã dẫn dắt thiếu nhi đi vào thế giới thần tiên, cổ tích; ông khéo léo lồng ghép vào giáo dục đạo đức và lòng biết ơn một cách tự nhiên, tinh tế: “Bà cố như em bé/ Nằm nhỏng nhẽo suốt ngày/ Ăn phải người đút mớm/ Tắm có người lo thay/…/ Thương cố ngày mỗi yếu/ Tấm lưng ngày mỗi còng/ Cố như co mình lại/ Để cho em lớn nhồng” (Thương cố già lẫn). Ông đã sử dụng thủ pháp so sánh ngược độc đáo và hệ thống từ láy gợi hình; qua đó ca ngợi đức hy sinh thầm lặng, đồng thời thể hiện nỗi xót xa trước sự già nua của bà cố.
Hay các bài “Nhổ tóc bạc cho ông”; “Mừng sinh nhật ông ngoại”; “Cõng cháu đi học”; “Nụ hôn hoa”; “Cháu ngoan”; “Tiếng xe cấp cứu”… cũng tập trung vào chủ đề này.
Trong bài “Trên chuyến tàu hỏa” ông viết: “Chuyến tàu Bắc-Nam/ Em nằm tầng một/ Ông già tóc bạc/ Run run tầng ba/ Tội nghiệp ông già/ Mỗi lần lên xuống/ Chân tay luống cuống/ Chắc ngã mất thôi!/ Ông ơi! Ông ơi! Nhường ông tầng một/ Ông đỡ khó nhọc/ Tiện lúc vào ra”.
Thơ Ngọc Khương thường hòa quyện vào thiên nhiên, hóa thân vào cỏ cây sông núi, hòa nhập vào thế giới muôn loài. Sau tập thơ “Muôn lời thiên nhiên” thì “Đồng dao lúng liếng”, một lần nữa Ngọc Khương lại kéo các em gần lại với thế giới tự nhiên.
Trong bài “Nỗi niềm rừng thông” ông viết: “Sao giờ/Lòng những rưng rưng/Ngàn thông bị đốn/ Trăm rừng bị cưa/Qua đường/Em cứ ngẫn ngơ/Chim kêu lạc tiếng/Xác xơ núi đồi/Thông rên/Buốt tận chân trời/Trách đời hờ hững/Trách người vô tâm”. Tác giả đã sử dụng thủ pháp siêu thực, cảnh vật thiên nhiên vượt qua giới hạn tĩnh tại để hành động và phát ra âm thanh như con người. Rừng thông biết “rên”, tiếng chim “lạc tiếng” giữa núi đồi “xác xơ” tạo nên một bức tranh âm thanh méo mó, ám ảnh đúng như mới bước ra từ những cơn ác mộng. Không gian mở rộng đến vô tận để đo lường mức độ tàn phá của lòng người. Nỗi đau đớn lên đến đỉnh điểm khi nhân vật trữ tình đối thoại với chính thực tại khắc nghiệt, vạch trần thái độ “hờ hững”, “vô tâm” của con người trước sự chảy máu của thiên nhiên.
Ông hướng các em đến lòng yêu thương, chia sẻ ngọt bùi với đồng bào, những số phận không may mắn: “Bão mang theo lũ/ Xói sập nhịp cầu/ Cuốn bao sinh mạng/ Xuống lòng sông sâu!/ Thương thay làng Nủ/ Chỉ phút chốc thôi/ Cả làng biến mất/ Buốt trời mồ côi// Hướng về tâm bão/ Nỗi lòng phương xa/ Tấm chăn, chiếc áo/ Gửi đến mọi nhà/ Và đây cuốn vở/ Cùng bạn đến trường/ Vơi phần đau khổ/ Ấm tình yêu thương…” (Bão).
Trong bài thơ dài “Đồng dao lúng liếng” lấy làm tiêu đề của tập sách, với thủ pháp nhân hóa, các con vật đều được hóa thân thành những nhân vật có tâm hồn lung linh, sống động: “Gâu gâu! Gâu gâu!/ Chú Mực giữ nhà/ Hay đánh cắp quà/ Là anh Chuột nhắt/ Siêng năng tìm mật/ Là mấy chú ong/ Ăn hết lúa đồng/ Là bầy chim sẻ/ Ruộng khô nứt nẻ/ Cóc gọi mưa về/ Mấy ả Lợn sề/ Nằm ì lười nhác/ Chú Ếch khoác lác/ Tán chuyện bờ ao/ Sau trận mưa rào/ Ểnh ương ngồi khóc/ Thương thay chị Ốc/ Lam lũ bùn sâu/ Rụt cổ, rụt đầu/ Bác Rùa tự vệ// Chú Nhồng vui vẻ/ Gặp ai cũng chào/ Bác Ngựa chân cao/ Phi nhanh như gió/ Ông Trâu thèm cỏ/ Nằm nhai hương đồng…”.
Tác giả đã biến các con vật có nhân cách, tính cách con người và hành động rất chân thực.Bằng thủ pháp liệt kê và đối lập đặc tính, bài thơ là một bức tranh thu nhỏ về thế giới loài vật với những nét tính cách trái ngược đầy thú vị. Mỗi câu là một mảnh ghép, xây dựng nên một hệ sinh thái làng quê sống động.
“Đồng dao lúng liếng” là sự giao hòa của thơ truyền thống với tư duy hiện đại. Bên cạnh nhiều bài với thể thơ câu ngắn có 4, 5 chữ làm chủ đạo thì Ngọc Khương đã cách tân thể thơ lục bát bằng cách ngắt nhịp thành các câu đơn chỉ có một cụm chủ-vị làm nòng cốt hoặc các câu đặc biệt: “Ra khơi/ Em ngắm san hô/ Trong veo đáy biển/ Nhấp nhô đá ghềnh// San hô/ Lớp lớp vươn mình/ Thân như ngà ngọc/ Chồng chềnh sóng lay// San hô/ Vươn vạn cánh tay/ Níu nhau/ Thành những rừng cây điệp trùng/Quê em xứ sở anh hùng/ San hô-lũy thép/Giữ vùng biển xanh…” (Em ngắm san hô).
Chiều 21/4/2026, trong khuôn khổ Trại sáng tác văn học thiếu nhi tại Quảng Trị, buổi tọa đàm về tập thơ “Đồng dao lúng liếng của Ngọc Khương” do hai nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá và Nguyễn Đức Hạnh chủ trì đã được tổ chức sôi nổi.
Nhà thơ Trần Hà Liên nhận định “Ngọc Khương đã thành công khi “làm mới” đồng dao, đưa những nhịp điệu dân gian vào đời sống hiện đại mà không hề cũ kỹ”. Tiến sĩ văn học Hà Thanh Vân thì nhận xét: “Đồng dao lúng liếng không hô hào đạo đức, không lên gân dạy dỗ nhưng mỗi bài thơ đều gieo mầm thân thiện, một tia nắng tươi”.
Ngọc Khương xứng đáng là nhà thơ viết cho thiếu nhi xuất sắc trong dòng chảy văn học hiện đại nước nhà.
H.M.Đ









