Hài hòa lợi ích giữa nông dân, doanh nghiệp, môi trường

  • 06:19, 30/10/2026
  • icon facebook
  • icon youtube
  • icon titok

QTO - Nông nghiệp xanh là hướng đi tất yếu, nhưng để phát triển bền vững cần có sự đồng bộ từ tổ chức sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu, tận dụng phụ phẩm đến kết nối thị trường và hình thành chuỗi giá trị. Phóng viên (P.V) Báo và phát thanh, truyền hình Quảng Trị đã có cuộc trao đổi với kỹ sư (K.S) Hồ Xuân Hiếu, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Tổng Công ty Thương mại Quảng Trị, về những điều kiện cần thiết để thúc đẩy phát triển nông nghiệp xanh, hài hòa lợi ích giữa nông dân, doanh nghiệp và môi trường.

• P.V: Thưa ông! Từ góc nhìn của một doanh nhân trực tiếp tham gia sản xuất và liên kết với nông dân, ông nhìn nhận thế nào về yêu cầu chuyển từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp xanh?

- K.S Hồ Xuân Hiếu: Theo tôi, chuyển sang nông nghiệp xanh không còn là lựa chọn mang tính phong trào mà đã trở thành yêu cầu của thị trường. Người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, dư lượng hóa chất, phát thải và trách nhiệm với môi trường. Nếu vẫn phụ thuộc nhiều vào phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và khai thác tài nguyên theo chiều rộng, nông sản sẽ khó nâng cao giá trị và tiếp cận những thị trường có tiêu chuẩn cao.

SEPON lựa chọn hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn và liên kết chuỗi nhằm giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm, tận dụng phụ phẩm và giảm tác động đến môi trường, đồng thời tạo mối liên kết bền vững giữa doanh nghiệp với nông dân.

Ký kết hợp tác giữa Sepon Group với UBND xã Vĩnh Thủy - Ảnh: P.X.D
Ký kết hợp tác giữa Sepon Group với UBND xã Vĩnh Thủy - Ảnh: P.X.D

• P.V: Trong thực tế, đâu là trở ngại lớn nhất khi chuyển từ phương thức sản xuất truyền thống sang nông nghiệp xanh?

- K.S Hồ Xuân Hiếu: Khó khăn lớn nhất không nằm ở một yếu tố riêng lẻ mà ở sự đồng bộ của cả chuỗi. Có kỹ thuật nhưng không có thị trường thì nông dân khó duy trì sản xuất; có thị trường nhưng vùng nguyên liệu manh mún thì doanh nghiệp không thể tổ chức sản xuất quy mô lớn. Có máy móc hiện đại nhưng lịch thời vụ, thủy lợi và cơ giới hóa không đồng bộ thì thiết bị cũng khó phát huy hiệu quả.

Một ví dụ cụ thể là việc thu gom rơm sau thu hoạch. Doanh nghiệp muốn cuốn rơm làm nguyên liệu chăn nuôi, phân hữu cơ hoặc nhiên liệu sinh khối. Tuy nhiên, ở một số nơi, vừa gặt xong, nước đã được đưa vào ruộng để chuẩn bị vụ mới. Ruộng ngập khiến máy cuốn rơm không thể hoạt động, người dân lại phải đốt rơm.

Thực tế này cho thấy chuyển đổi xanh không chỉ cần công nghệ mà còn đòi hỏi sự phối hợp giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp, đơn vị thủy lợi và chính quyền địa phương. Nếu mỗi bên thực hiện tốt phần việc của mình nhưng không thống nhất lịch vận hành, cả chuỗi vẫn có thể bị ách tắc.

• P.V: Làm thế nào để mô hình kinh tế tuần hoàn không dừng ở việc tận dụng phụ phẩm mà thực sự hình thành vòng giá trị khép kín?

- K.S Hồ Xuân Hiếu: Kinh tế tuần hoàn chỉ thành công khi phụ phẩm có giá trị kinh tế và đầu ra rõ ràng. Nếu chỉ thu gom để “không bỏ đi” thì chưa thể hình thành một chuỗi tuần hoàn bền vững. Cần trả lời được 3 câu hỏi: Phụ phẩm được thu gom như thế nào, xử lý thành sản phẩm gì và sản phẩm đó quay trở lại phục vụ khâu nào trong chuỗi?

Rơm có thể làm nguyên liệu chăn nuôi hoặc phân hữu cơ; phụ phẩm từ sắn, lúa, cao su có thể được xử lý để tạo phân bón, nhiên liệu sinh khối hoặc nguyên liệu cho công đoạn khác. Muốn biến chất thải thành nguồn giá trị, cần đồng bộ công nghệ, logistics, mùa vụ và thị trường. Kinh tế tuần hoàn vì thế không chỉ tận dụng phụ phẩm mà còn thiết kế lại toàn bộ chuỗi giá trị.

• P.V: Trong chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ, đâu là mắt xích quyết định khả năng mở rộng nông nghiệp xanh ở Quảng Trị? Doanh nghiệp cần làm gì khi thị trường chưa trả đúng giá trị sản phẩm?

- K.S Hồ Xuân Hiếu: Theo tôi, thị trường là mắt xích quyết định. Nông dân chỉ có thể duy trì phương thức sản xuất xanh nếu nhìn thấy lợi ích kinh tế lâu dài. Doanh nghiệp cần vừa giảm chi phí bằng công nghệ, cơ giới hóa, quy trình chuẩn và vùng nguyên liệu tập trung, vừa phát triển thị trường thông qua truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng, thương hiệu và chế biến sâu.

Nếu thị trường chưa sẵn sàng trả giá cao hơn, doanh nghiệp không thể chỉ chờ đợi mà phải tạo sự khác biệt và chứng minh được giá trị đó. Sản phẩm có mã số vùng trồng, nguồn gốc rõ ràng, chất lượng ổn định và thương hiệu đáng tin cậy sẽ có lợi thế hơn sản phẩm chỉ gắn nhãn “xanh”. Con đường lâu dài là chuyển từ “sản xuất cái mình có” sang “sản xuất cái thị trường cần”.

Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes tham quan Nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ Sepon, tháng 8/2026 - Ảnh: P.X.D
Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes tham quan Nhà máy sản xuất phân bón hữu cơ Sepon, tháng 8/2026 - Ảnh: P.X.D

• P.V: Theo ông, nông nghiệp xanh ở Quảng Trị cần thay đổi điều gì để hình thành vùng nguyên liệu và chuỗi sản xuất đủ lớn, thay vì chỉ có những mô hình riêng lẻ?

- K.S Hồ Xuân Hiếu: Điều cần thay đổi lớn nhất là tổ chức sản xuất theo vùng, thay vì để từng hộ, hợp tác xã hay doanh nghiệp hoạt động riêng lẻ. Muốn hình thành vùng nguyên liệu đủ lớn, cần đồng bộ giống, lịch thời vụ, thủy lợi, cơ giới hóa, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, dữ liệu sản xuất và kế hoạch tiêu thụ.

• P.V: Thời gian tới, doanh nghiệp định hướng phát triển chuỗi nông nghiệp xanh như thế nào, thưa ông?

- K.S Hồ Xuân Hiếu: SEPON định hướng xây dựng chuỗi theo hướng vùng nguyên liệu xanh-sản xuất thông minh-chế biến sâu-kinh tế tuần hoàn-thị trường có giá trị cao. Doanh nghiệp sẽ từng bước số hóa vùng nguyên liệu, tăng cơ giới hóa, tự động hóa, giảm đầu vào hóa học, tăng sử dụng phân hữu cơ và chế phẩm sinh học; đồng thời đưa phụ phẩm trở lại sản xuất để giảm chất thải, phát thải.

Điều doanh nghiệp mong muốn không phải Nhà nước làm thay mà là tháo gỡ đúng các điểm nghẽn: Hình thành vùng nguyên liệu tập trung; đồng bộ lịch thời vụ, thủy lợi; hoàn thiện dữ liệu nông nghiệp và truy xuất nguồn gốc; rút ngắn thủ tục đầu tư; tạo cơ chế thử nghiệm công nghệ mới và hỗ trợ kết nối thị trường.

• P.V: Từ thực tế hoạt động, ông có những đề xuất cụ thể nào?

- K.S Hồ Xuân Hiếu: Chúng tôi đề xuất tỉnh nghiên cứu xây dựng gạo JO2 trở thành thương hiệu gạo chung của Quảng Trị, được sản xuất theo quy trình thống nhất, có truy xuất nguồn gốc và mức giá thống nhất trên địa bàn tỉnh.

Xin nói đôi nét về gạo JO2. Đây là loại gạo chất lượng cao của Nhật, giống lúa này được du nhập vào Việt Nam và có bản quyền. Ưu điểm của nó là gạo dẻo, thơm ngon, người Nhật và Hàn Quốc rất thích ăn JO2. Giống lúa này cứng cây, chịu được hạn và thiên tai, năng suất khá cao khoảng 8tấn/ha, lại phù hợp với đồng ruộng Quảng Trị.

Quảng Trị có khoảng 55.000ha lúa mỗi vụ, hơn 70% dân số làm nông nghiệp, với giá trị sản xuất hơn 4.000 tỉ đồng/năm. Hầu hết các xã đều có diện tích trồng lúa, nhiều hợp tác xã hoạt động tốt, trong khi trường học, đơn vị quân đội, cơ quan, doanh nghiệp và các tổ chức có nhu cầu sử dụng gạo thường xuyên. Nếu hình thành cơ chế sử dụng gạo JO2 tại các bếp ăn tập thể và trong các chương trình an sinh xã hội, tỉnh có thể tạo đầu ra ổn định ngay trong tỉnh, giúp nông dân yên tâm sản xuất.

Chuỗi sản xuất có thể tổ chức theo hướng: Nông dân trồng JO2; tỉnh, doanh nghiệp và hợp tác xã liên kết thu mua, sau đó sấy, chế biến, đóng gói và phân phối trong tỉnh trước khi mở rộng ra thị trường ngoài tỉnh. Mục tiêu không chỉ là tiêu thụ sản phẩm mà còn xây dựng thương hiệu gạo JO2 của Quảng Trị, giúp nông dân ổn định đầu ra, người tiêu dùng có sản phẩm rõ nguồn gốc và nâng cao giá trị hạt gạo địa phương.

• P.V: Xin cảm ơn ông!

Phạm Xuân Dũng (thực hiện)

tin liên quan

Dự án Thành phần 1-Đường ven biển: Giá trị các hợp đồng xây lắp đạt hơn 82%
Dự án Thành phần 1-Đường ven biển: Giá trị các hợp đồng xây lắp đạt hơn 82%
QTO - Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông (QLDA ĐTXD CTGT) tỉnh cho biết, dự án Thành phần 1-Đường ven biển (thuộc dự án Đường ven biển và cầu Nhật Lệ 3, tỉnh Quảng Bình) hiện khối lượng thi công đạt hơn 82% giá trị các hợp đồng xây lắp.
Vùng nguyên liệu, doanh nghiệp và nền tảng số
Vùng nguyên liệu, doanh nghiệp và nền tảng số
QTO - Là lĩnh vực chiếm 18,12% GRDP của tỉnh, nông nghiệp Quảng Trị đang từng bước thay đổi phương thức sản xuất thông qua chuyển đổi số và cơ giới hóa đồng bộ. Việc ứng dụng hệ thống dữ liệu số toàn diện từ đồng ruộng, cánh rừng đến mạng lưới thủy lợi thay thế cho phương thức sản xuất chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, tạo nền tảng nâng cao hiệu quả sản xuất, hướng tới phát triển nông nghiệp xanh, bền vững.
Từ phụ phẩm đến nguồn tài nguyên giá trị
Từ phụ phẩm đến nguồn tài nguyên giá trị
QTO - Với nhiều nông dân, hành trình đến với nông nghiệp xanh bắt đầu từ tình yêu đất, yêu cây, từ những trăn trở trong sản xuất và mong muốn làm ra sản phẩm tốt hơn. Dù chưa được trang bị kiến thức bài bản về nông nghiệp xanh nhưng bằng kinh nghiệm tích lũy qua thực tiễn, họ vẫn tìm ra những cách làm mới, tận dụng hiệu quả nguồn nguyên liệu sẵn có, giảm chi phí và hạn chế tác động đến môi trường.