Nông nghiệp xanh-Chiến lược phát triển bền vững

  • 12:16, 29/10/2026
  • icon facebook
  • icon youtube
  • icon titok

QTO - Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Trị lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 xác định nông nghiệp xanh là 1 trong 4 trụ cột phát triển kinh tế của tỉnh. Đây không chỉ là sự lựa chọn về phương thức sản xuất mà còn là định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng: Chuyển từ khai thác tài nguyên và gia tăng sản lượng sang nâng cao giá trị, hiệu quả và sức cạnh tranh. Với đặc điểm sản xuất còn phân tán, thường xuyên chịu tác động của thiên tai, Quảng Trị cần lựa chọn đúng lợi thế, tổ chức lại sản xuất theo nhu cầu thị trường, phát huy vai trò doanh nghiệp, hợp tác xã và bảo đảm người dân thực sự được hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi.

Hiểu đúng về nông nghiệp xanh

Nông nghiệp xanh không đồng nhất với nông nghiệp hữu cơ, công nghệ cao hay việc giảm sử dụng hóa chất. Đó là cách tổ chức phát triển hài hòa 3 mục tiêu: Tạo giá trị kinh tế, sử dụng bền vững tài nguyên và nâng cao đời sống người dân. Bản chất của chuyển đổi xanh không nằm ở công nghệ hiện đại đến đâu, mà ở hiệu quả sử dụng đất, nước, vật tư, năng lượng; chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm; đồng thời là khả năng giảm thiểu những tác động bất lợi đến môi trường.

Theo đó, chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp là thay đổi căn bản cách xác định hiệu quả. Hiệu quả không chỉ được đánh giá qua năng suất, sản lượng, mà còn phải tính đủ chi phí, giá trị gia tăng, thị trường đầu ra, lợi nhuận và khả năng chống chịu rủi ro. Một mô hình chỉ thực sự xanh và bền vững khi lợi ích kinh tế của người sản xuất không phải đánh đổi bằng suy thoái đất, nước, rừng và hệ sinh thái.

Đồng chí Hoàng Nam, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị làm việc với Sở Nông nghiệp và Môi trường - Ảnh: H.Tr
Đồng chí Hoàng Nam, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị làm việc với Sở Nông nghiệp và Môi trường - Ảnh: H.Tr

Đối với Quảng Trị, lựa chọn nông nghiệp xanh trước hết là quyết định chiến lược xuất phát từ điều kiện và giới hạn phát triển của địa phương. Khi quỹ đất sản xuất, quy mô canh tác và rủi ro thiên tai không cho phép cạnh tranh bền vững bằng mở rộng diện tích, tăng sản lượng đơn thuần, tỉnh phải tạo khác biệt bằng chất lượng, tính đặc thù và giá trị trên mỗi đơn vị tài nguyên. Đất đai, rừng, các vùng nguyên liệu và hệ sinh thái đa dạng là nền tảng để kết nối sản xuất với chế biến, dịch vụ và thị trường.

Vì vậy, chuyển đổi xanh không chỉ là giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng sức cạnh tranh của nông sản mà còn góp phần tạo sinh kế ổn định, nâng cao chất lượng sống ở nông thôn.

Phát huy lợi thế, lựa chọn hướng đi phù hợp

Quảng Trị không có lợi thế đồng đều về sản xuất nông nghiệp quy mô lớn. Điều kiện đất đai, địa hình và khả năng canh tác khác biệt giữa các vùng; sản xuất hàng hóa, chế biến sâu và phát triển thị trường còn hạn chế. Nếu tiếp tục cạnh tranh chủ yếu bằng diện tích, sản lượng hoặc giá thấp, tỉnh khó tạo được vị thế bền vững trong chuỗi giá trị nông sản.

Tuy vậy, hạn chế về quy mô không đồng nghĩa với hạn chế về tiềm năng. Sau hợp nhất, Quảng Trị có khoảng 1,14 triệu ha đất nông nghiệp, trong đó 206.090ha đất trồng trọt và 924.896ha đất lâm nghiệp; cùng các vùng nguyên liệu lúa, cao su, sắn, cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả, dược liệu và rừng trồng.

Diện tích rừng lớn, hệ sinh thái đa dạng và giá trị cảnh quan, văn hóa bản địa tạo dư địa phát triển kinh tế lâm nghiệp, dịch vụ sinh thái và sinh kế cộng đồng. Vấn đề cốt lõi là xác định đúng lợi thế của từng tiểu vùng, thay vì áp dụng một mô hình phát triển đồng loạt cho toàn tỉnh.

Định hướng chính sách vì thế không phải sản xuất nhiều hơn bằng mọi giá, mà tạo giá trị cao hơn từ nguồn lực hiện có. Với trồng trọt, ưu tiên chất lượng, thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và sản xuất theo tín hiệu thị trường. Với lâm nghiệp, kết hợp quản lý rừng bền vững, rừng gỗ lớn, chế biến sâu và khai thác hợp lý các dịch vụ hệ sinh thái. Với chăn nuôi, thủy sản, chú trọng an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh, quản lý chất thải và nâng hiệu quả kinh tế. Mỗi ngành hàng cần được lựa chọn theo lợi thế so sánh, khả năng liên kết và nhu cầu thực tế của thị trường.

Như vậy, nông nghiệp xanh phải được đặt trong tổng thể cơ cấu lại ngành và tổ chức không gian phát triển: Lựa chọn đúng sản phẩm, đúng vùng, đúng quy mô, gắn khả năng thích ứng khí hậu với mục tiêu tạo ra giá trị kinh tế dài hạn.

Từ mô hình thực tiễn đến tổ chức lại sản xuất

Thực tiễn đã xuất hiện những tín hiệu tích cực. Đến tháng 7/2026, quy trình tưới khô xen ướt được triển khai trên gần 10.000ha lúa tại 24 xã, tiết kiệm 20%-30% lượng nước tưới và tăng năng suất khoảng 5%-8%. Toàn tỉnh có gần 1.500ha sản xuất được chứng nhận hữu cơ; lúa hữu cơ được bao tiêu với giá cao hơn thị trường 20%-40%. Trong lâm nghiệp, 58.747ha rừng trồng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững, góp phần nâng giá trị gỗ và khả năng tiếp cận các thị trường có tiêu chuẩn cao.

Quảng Trị định hướng phát triển nông nghiệp xanh gắn với khai thác hiệu quả lợi thế từng vùng, nâng cao giá trị sản xuất và thích ứng với biến đổi khí hậu - Ảnh: N.T.L
Quảng Trị định hướng phát triển nông nghiệp xanh gắn với khai thác hiệu quả lợi thế từng vùng, nâng cao giá trị sản xuất và thích ứng với biến đổi khí hậu - Ảnh: N.T.L

Công nghệ, kinh tế tuần hoàn và liên kết sản xuất cũng từng bước phát huy hiệu quả. Thiết bị bay không người lái được sử dụng trên hơn 22.000ha lúa; phụ phẩm cà phê được tận dụng làm phân hữu cơ; diện tích sản xuất theo chuỗi liên kết đạt trên 20.700ha. Những kết quả này cho thấy chuyển đổi xanh có thể đồng thời giảm chi phí, tiết kiệm tài nguyên, nâng cao chất lượng và cải thiện giá trị tiêu thụ, chứ không nhất thiết làm tăng gánh nặng chi phí cho người sản xuất.

Tuy nhiên, thành công của từng mô hình chưa đồng nghĩa với chuyển đổi thành công của toàn ngành. Vùng nguyên liệu còn phân tán, liên kết chế biến và tiêu thụ thiếu ổn định, năng lực đáp ứng tiêu chuẩn thị trường chưa đồng đều. Điểm nghẽn lớn nhất không chỉ ở kỹ thuật canh tác mà còn ở năng lực tổ chức sản xuất và phân chia lợi ích trong chuỗi giá trị.

Do đó, trọng tâm chính sách phải chuyển từ hỗ trợ mô hình riêng lẻ sang kiến tạo hệ sinh thái sản xuất theo chuỗi, có vùng nguyên liệu, doanh nghiệp dẫn dắt, tiêu chuẩn chất lượng và thị trường đầu ra. Nên ưu tiên những ngành hàng có lợi thế và triển vọng gia tăng giá trị như lúa chất lượng cao, cà phê, hồ tiêu, dược liệu, sản phẩm lâm nghiệp và thủy sản; không đầu tư dàn trải theo phong trào.

Để thực hiện, cần thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai trên cơ sở bảo đảm quyền lợi người sử dụng đất; phát triển vùng nguyên liệu gắn với cơ giới hóa, bảo quản và chế biến. Việc thu hút đầu tư phải chọn doanh nghiệp có năng lực về công nghệ, tài chính, tổ chức thị trường và cam kết liên kết lâu dài với người sản xuất. Hạ tầng chế biến, logistics cần được bố trí theo nhu cầu từng vùng, tránh đầu tư thiếu đồng bộ. Cửa khẩu, cảng biển và Hành lang kinh tế Đông-Tây mở ra cơ hội tiếp cận thị trường, nhưng những lợi thế này chỉ trở thành lợi thế khi nông sản đáp ứng tiêu chuẩn, bảo đảm truy xuất được nguồn gốc và duy trì nguồn cung ổn định.

Trong mô hình đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, quy hoạch vùng sản xuất, đầu tư hạ tầng dùng chung và giảm rủi ro cho các chủ thể; doanh nghiệp dẫn dắt chuỗi giá trị và thị trường; hợp tác xã là cầu nối tổ chức sản xuất; nông dân là chủ thể và người thụ hưởng. Chính sách phải khuyến khích hợp đồng minh bạch, phân chia lợi ích và rủi ro hợp lý, không để người nông dân đơn độc trước biến động thị trường.

Cùng với tổ chức lại sản xuất, cần ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số có chọn lọc, lấy hiệu quả đầu tư làm căn cứ; ưu tiên thủy lợi thích ứng khí hậu, hạ tầng vùng nguyên liệu, bảo quản và chế biến. Trong mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã phải thực sự là nơi kết nối, hỗ trợ hợp tác xã và xử lý vướng mắc tại cơ sở; cấp tỉnh tập trung định hướng, điều phối nguồn lực và giám sát kết quả. Đào tạo nghề, phát triển kỹ năng quản trị và tạo việc làm phi nông nghiệp tại nông thôn cũng cần được coi là bộ phận của chính sách chuyển đổi xanh.

Lấy hiệu quả thực chất làm thước đo

Thước đo của nông nghiệp xanh không thể chỉ là diện tích hữu cơ, số mô hình công nghệ cao hay số chứng nhận được cấp. Hiệu quả cần được đánh giá thông qua những kết quả mà người dân và thị trường có thể cảm nhận được: Chi phí có giảm, lợi nhuận và thu nhập có tăng, đầu ra có ổn định, tài nguyên có được phục hồi, khả năng chống chịu thiên tai có tốt hơn hay không. Đó cũng phải là căn cứ để lựa chọn, điều chỉnh và đánh giá hiệu quả chính sách công.

Quảng Trị không cần chạy đua để trở thành địa phương có sản lượng nông nghiệp lớn nhất. Điều tỉnh cần là xây dựng một nền nông nghiệp có bản sắc, chất lượng, sức cạnh tranh và khả năng thích ứng cao, tạo giá trị gia tăng tương xứng với tiềm năng đất đai, rừng và nguồn lực đầu tư. Điều đó đòi hỏi sự nhất quán từ định hướng quy hoạch đến lựa chọn ngành hàng, phân bổ ngân sách, thu hút doanh nghiệp và tổ chức thực thi ở cơ sở.

Phát triển nông nghiệp xanh, xét đến cùng, là lựa chọn phát triển lấy con người làm trung tâm, lấy hiệu quả kinh tế và tính bền vững làm nền tảng. Khi nông dân có thể sống tốt hơn bằng nghề nông, doanh nghiệp yên tâm đầu tư dài hạn, cộng đồng nông thôn có thêm cơ hội và tài nguyên được gìn giữ cho thế hệ sau, nông nghiệp xanh mới thực sự khẳng định vị trí là 1 trong 4 trụ cột phát triển của Quảng Trị.

Hoàng Nam

Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Trị

tin liên quan

Tăng cường quản lý khai thác khoáng sản
Tăng cường quản lý khai thác khoáng sản
QTO - Thời gian qua, hoạt động khai thác khoáng sản tại xã Lệ Ninh đã góp phần cung ứng vật liệu xây dựng (VLXD), tạo việc làm và thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn. Tuy nhiên, việc khai thác cũng tác động đến môi trường, hạ tầng giao thông và đời sống người dân nên địa phương đang tập trung công tác quản lý, kiểm tra, giám sát...
Linh hoạt phát triển kinh tế vùng cát
Linh hoạt phát triển kinh tế vùng cát
QTO - Điều kiện thổ nhưỡng khô cằn, khí hậu khắc nghiệt và hạ tầng sản xuất còn nhiều khó khăn từng là rào cản đối với phát triển kinh tế vùng cát ven biển Quảng Trị. Tuy nhiên, bằng tư duy đổi mới, sự chủ động chuyển đổi mô hình sản xuất của người dân cùng với sự đồng hành của chính quyền và ngành chuyên môn, những vùng đất khó đang dần được đánh thức, mở hướng phát triển kinh tế đa dạng, hiệu quả và bền vững.
Mở đường kinh tế tư nhân phát triển
Mở đường kinh tế tư nhân phát triển
QTO - Nghị quyết số 68-NQ/TW (Nghị quyết 68) của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đang mở ra một giai đoạn mới trong tư duy và hành động phát triển kinh tế, khi khu vực tư nhân lần đầu tiên được xác định là “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế.