QTO - Theo báo cáo đánh giá Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2025, tỉnh Quảng Trị dẫn đầu cả nước về chính sách thúc đẩy khoa học công nghệ (KHCN) và đổi mới sáng tạo (ĐMST) nhưng nhiều chỉ số thành phần liên quan đến năng lực thực thi trong thực tế lại đạt mức thấp. Vì vậy, tỉnh đang triển khai các giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách này, quyết tâm đưa KHCN và ĐMST trở thành động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Nghịch lý giữa chỉ số đầu vào và chỉ số đầu ra
Giữa tháng 6/2026, Sở KH-CN tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề “Phân tích nội hàm chỉ số ĐMST cấp địa phương của tỉnh Quảng Trị và giải pháp nâng cao trong thời gian tới”.
Theo phân tích của các chuyên gia, cấu trúc 7 trụ cột trong PII năm 2025 của tỉnh thể hiện rõ nghịch lý giữa chỉ số đầu vào (quyết tâm chính trị) và chỉ số đầu ra (năng lực thực tế của nền kinh tế). Điểm sáng của tỉnh là chỉ số thành phần “Chính sách thúc đẩy KHCN và ĐMST phục vụ phát triển kinh tế, xã hội (KT-XH)” đạt 55,64 điểm, xếp thứ 1/34 tỉnh, thành phố.
Điều này chứng minh chính quyền địa phương đã ban hành kịp thời các hành lang pháp lý, cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp và tổ chức ứng dụng công nghệ. Ngoài ra còn có một số chỉ số thành phần cao, như: “Chi cho KHCN từ ngân sách địa phương/GRDP” của tỉnh đứng thứ 6/34; “Đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể/chứng nhận” xếp thứ 6/34 và “Tỉ lệ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo” xếp thứ 9/34.
![]() |
| Cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm cải thiện trực tiếp chỉ số thành phần về phát triển con người trong chỉ số PII - Ảnh: M.L |
Dù có chủ trương thông thoáng nhưng rào cản thực tế từ nội lực nền kinh tế địa phương khiến chỉ số PII của tỉnh thấp. Cụ thể, chỉ số thành phần “Cơ sở hạ tầng chung của tỉnh” chỉ đạt 12,13 điểm, đứng thứ 32/34; các chỉ số thành phần, như: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài/GRDP” xếp thứ 27/34; “Giá trị xuất khẩu/GRDP” xếp thứ 28/34. Quảng Trị đang rơi vào “vùng trũng” về thu hút vốn đầu tư chất lượng cao, chưa hình thành được các dự án FDI mang tính dẫn dắt và có khả năng lan tỏa công nghệ mạnh mẽ.
Khi dòng vốn yếu, doanh nghiệp khó đổi mới công nghệ, hệ quả là số lượng doanh nghiệp sở hữu chứng chỉ chất lượng ISO xếp thứ 31/34; đơn đăng ký nhãn hiệu độc lập của doanh nghiệp xếp thứ 30/34; chỉ số “Hợp tác nghiên cứu giữa tổ chức KH và CN và doanh nghiệp” xếp thứ 29/34.
Một thực trạng khác đòi hỏi sự nhìn nhận nghiêm túc giữa hiệu quả lao động hiện tại và sự đầu tư về nhân lực cho tương lai. Trong khi chỉ số thành phần “Khả năng suất lao động của người dân” xếp thứ 7/34 thì chỉ số “Mức chi cho giáo dục và đào tạo bình quân trên một người đi học” của địa phương lại thấp (xếp thứ 32/34). Điều này cho thấy tỉnh đang khai thác tốt “vốn sẵn có” của sức lao động nhưng lại chưa đầu tư tương xứng để tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển bền vững.
Chỉ số PII năm 2025 có 52 chỉ số thành phần, chia làm 7 trụ cột (5 trụ cột đầu vào phản ánh những yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KT-XH dựa trên KHCN và ĐMST; 2 trụ cột đầu ra phản ánh kết quả tác động của KHCN và ĐMST vào phát triển KT-XH). Dữ liệu phục vụ xây dựng PII 2025 được thu thập từ hai nguồn chính. Nguồn thứ nhất từ số liệu thống kê, quản lý nhà nước được công bố chính thức từ các bộ, cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức ở trung ương (có 39/52 chỉ số) và nguồn thứ hai do các địa phương thu thập và cung cấp-kèm theo các tài liệu minh chứng (có 13/52 chỉ số).
Nâng cao chỉ số PII là nhiệm vụ liên ngành
Để hiện thực hóa mục tiêu lọt vào nhóm 20 địa phương dẫn đầu cả nước về PII vào năm 2030, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch cải thiện và nâng cao chỉ số PII năm 2026 và những năm tiếp theo với mục tiêu tăng từ 2-3 bậc mỗi năm. Mới đây nhất, ngày 29/6/2026, UBND tỉnh cũng ban hành kế hoạch phát KHCN và ĐMST trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2026-2030.
Quảng Trị xác định chiến lược cốt lõi là: Khắc phục triệt để các “điểm nghẽn” về hạ tầng để giải phóng sức sản xuất, đồng thời lấy phát triển con người làm nền tảng cho mọi hoạt động sáng tạo. Ông Phạm Thanh Nam, Phó Giám đốc Sở KH-CN khẳng định, việc nâng cao chỉ số PII không chỉ nhằm cải thiện thứ hạng của tỉnh mà còn góp phần nâng cao chất lượng điều hành, năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển KHCN, ĐMST, chuyển đổi số phục vụ phát triển KT-XH. Đây là nhiệm vụ liên ngành, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các sở, ban, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức liên quan.
Còn theo ông Nguyễn Đức Thiện, Phó trưởng Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh, trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, đầu tư hạ tầng cần có sự tính toán để không dàn trải mà tập trung vào những công trình có khả năng mở khóa nguồn lực, như: Giải phóng quỹ đất, kết nối các đầu mối kinh tế, tháo gỡ đồng thời “điểm nghẽn” của nhiều dự án và tạo điều kiện để nhà đầu tư hạ tầng chuyên nghiệp cùng tham gia.
Hiệu quả của đầu tư vì vậy không chỉ được đo bằng công trình hoàn thành, mà bằng khả năng chuyển hóa một đồng vốn thành nhiều đồng vốn xã hội, nhiều dự án sản xuất và giá trị gia tăng mới cho địa phương. Thứ hai là cần đổi mới tư duy thu hút đầu tư, chuyển từ mục tiêu lấp đầy diện tích sang nâng cao mật độ công nghệ, vốn và giá trị gia tăng trên một đơn vị đất công nghiệp.
![]() |
| Doanh nghiệp cần được hỗ trợ vốn để đổi mới công nghệ sản xuất - Ảnh: M.L |
Ông Thiện cho biết: “Một dự án sử dụng nhiều đất nhưng tạo ra ít giá trị, công nghệ thấp, tiêu hao nhiều năng lượng và ít đóng góp cho chuỗi cung ứng địa phương có thể làm tăng tỉ lệ lấp đầy, nhưng chưa chắc làm tăng năng lực ĐMST của tỉnh. Do đó, trong tiếp cận, lựa chọn và hỗ trợ nhà đầu tư, cần quan tâm sâu hơn đến chất lượng công nghệ, năng suất dự kiến, mức độ sử dụng tài nguyên, hiệu quả năng lượng. Điều này không có nghĩa là Quảng Trị chỉ tìm kiếm những dự án công nghệ cao theo nghĩa hẹp. Với điều kiện của tỉnh, ĐMST còn là việc lựa chọn được những dự án phù hợp với lợi thế địa phương nhưng sử dụng công nghệ tốt hơn, quản trị hiệu quả hơn, chế biến sâu hơn và tạo ra giá trị cao hơn từ cùng một nguồn tài nguyên”.
Bên cạnh đầu tư về hạ tầng, việc giải quyết bài toán về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng cần được quan tâm. Theo ông Võ Thái Hiệp, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp tỉnh, hiện nay nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về nguồn vốn lưu động, khả năng tiếp cận tín dụng, đơn hàng, thị trường tiêu thụ, sức mua chưa đồng đều nên doanh nghiệp cần có các gói tín dụng, nhất là các nguồn vay tài chính vi mô cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đồng thời tỉnh có giải pháp khuyến khích, ưu đãi thuế hoặc hỗ trợ sau đầu tư để doanh nghiệp tích lũy tài sản cố định và mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh.
Tuy nhiên, mọi nỗ lực về hạ tầng hay cơ chế sẽ trở nên vô nghĩa nếu thiếu con người-chủ thể của mọi sự sáng tạo. Vì vậy, tỉnh cần quan tâm gắn kết chặt chẽ các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ với việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm cải thiện trực tiếp chỉ số “Phát triển con người”. Khi người lao động được trang bị tư duy đổi mới, có sức khỏe tốt thì tốc độ tăng năng suất lao động sẽ tiếp tục được nhân lên bền vững.
Mai Lâm










