QTO - Tập sách “Khát vọng hòa bình” (Tập 1) do Hội Nhà văn Việt Nam, Chi hội Nhà văn tỉnh Quảng Trị, Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2024. Tập sách là tuyển tập được tuyển chọn công phu những tác phẩm thơ, văn xuôi, tiểu luận phê bình của những cây bút có tên tuổi trong và ngoài tỉnh.
Về thơ, góp mặt từ thi hào Chế Lan Viên cho đến những tác giả quen thuộc trên thi đàn trong tỉnh, như: Lê Thị Mây, Hoàng Vũ Thuật, Nguyễn Hữu Quý, Mai Nam Thắng, Nguyễn Văn Dùng, Nguyễn Hữu Thắng, Võ Văn Hoa, Võ Văn Luyến, Nguyễn Văn Chức…; còn ngoại tỉnh là những nhà thơ tên tuổi như Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng, Hữu Thỉnh, Anh Ngọc, Trần Quang Đạo, Phan Hoàng… Về bút ký, ghi chép, có những cây bút Quảng Trị đã định hình phong cách, như: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Hoàn, Minh Tứ, Lê Đức Dục, Đào Tâm Thanh, Hoàng Công Danh…; ngoài tỉnh có những nhà văn đã thành danh, như: Nguyễn Quang Thiều, Lương Ngọc An, Nhụy Nguyên… Truyện ngắn có mặt các nhà văn, như: Nguyễn Quang Lập, Phạm Xuân Hùng, Nguyễn Thị Lê Na…; tiểu luận, phê bình ghi dấu những cây bút tinh tường trong nghề, như: Mai Văn Hoan, Hồ Thế Hà…
Thơ Chế Lan Viên có nhiều bài đọc lại vẫn hay và không hề cũ. Như bài 4 dòng “Hai câu hỏi” được sáng tác từ phong trào Thơ mới, ngắn gọn, cô đọng một cách kinh điển về bản thể luận đầy triết lý, thông tuệ, làm nên phong cách thi ca độc đáo của nhà thơ lớn Chế Lan Viên: ““Ta là ai?”, như ngọn gió siêu hình/Câu hỏi hư vô thổi nghìn nến tắt/“Ta vì ai?”, khẽ xoay chiều ngọn bấc/Bàn tay người thắp lại triệu chồi xanh”.
![]() |
| Tập sách “Khát vọng hòa bình” (Tập 1) quy tụ nhiều tác giả trong và ngoài tỉnh viết về đề tài chiến tranh, hòa bình và quê hương Quảng Trị - Ảnh: P.X.D |
Hòa bình không chỉ đồng nghĩa với việc chấm dứt chiến tranh mà còn là sự hội ngộ, đoàn viên, xóa bỏ những ngăn cách bất thường. Điều ấy vô cùng quý giá, có ý nghĩa nhân văn lớn lao. Ngay cả trong những khoảnh khắc yên tĩnh của chiến tranh, giọng thơ đầy nữ tính, tinh tế và đa cảm của Lê Thị Mây vẫn làm rung động lòng người qua bài thơ “Những mùa trăng mong chờ”, với những câu thơ mới mẻ, mang tính phát hiện: "Anh khoác ba lô về/Đất trời dồn chật lại/Em tái nhợt niềm vui/Như trăng mọc ban ngày".
Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu đã sáng tác bài thơ “Gửi Sư đoàn cũ” rất da diết và xúc động. Những câu thơ vừa cụ thể, vừa khái quát và ám ảnh: “Nếu tất cả trở về đông đủ/Sư đoàn tôi sẽ thành mấy sư đoàn/Câu thơ ấy năm chiến tranh tôi viết/Trước những hàng bia mộ dọc thời gian”.
Sự hy sinh vô bờ bến của những người lính trong cuộc chiến tranh nhân dân chống ngoại xâm, mục đích cuối cùng vẫn là đem lại hòa bình cho Tổ quốc, Nhân dân. Viết về đề tài liệt sĩ, nhà thơ Nguyễn Hữu Quý đã thành công khi tìm được một tứ thơ mới lạ từ hình tượng “Mười nghìn Trường Sơn”, gợi liên tưởng đến hàng nghìn liệt sĩ đang yên nghỉ tại Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn. Bài thơ “Khát vọng Trường Sơn” từng đoạt giải cao trong một cuộc thi thơ của tạp chí Văn nghệ Quân đội. Đây là một thi phẩm giàu cảm xúc: “Mười nghìn tấm bia, còn mười nghìn nữa/Mười nghìn đồng đội nằm rải Trường Sơn/Mười nghìn hài cốt chưa về khói hương/Mười nghìn đơn côi nằm trong cõi vắng/Mười nghìn cô quạnh lang thang nẻo rừng.../Mười nghìn khát vọng được về bên nhau!”.
Bài thơ “Vị tướng già” của nhà thơ Anh Ngọc, với lời đề từ: “Kính tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp”, được viết bằng giọng thơ thành kính mà không xa cách. Những chi tiết được chọn lọc đã khắc họa sinh động chân dung vị tướng của lòng dân: “Ru giấc mơ của vị tướng già/Có tiếng khóc xen tiếng cười nức nở/Một chân ông đã đặt vào lịch sử/Một chân còn vương vấn với mùa thu”.
Bút ký “Hành lang của người và gió" của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường chinh phục người đọc bởi những cảm xúc chân thực, với những liên tưởng bất ngờ, độc đáo và lối viết giàu chất văn chương: “Đêm 27/1/1973. Chỉ cần qua một quãng đêm yên tĩnh này nữa, chiến tranh Việt Nam sẽ kết thúc. Tôi đứng một mình bên bờ Nam sông Bến Hải, kính cẩn chờ giây phút mà toàn thế giới sẽ trả lại cho dòng sông đã bị vỡ đôi của đất nước tôi. Chưa bao giờ lịch sử lại căng đầy trong tôi một niềm cảm khái trầm hùng đến như vậy, quanh trụ bê tông của một cây cầu đã gãy. Đất nước hai lần gian lao đã in dấu trên trụ cầu bằng bao nhiêu lớp vỏ hàu nham nhở, giống như vết bùn lấm nhọc nhằn chân ngựa đá mà vua Trần đã nhìn thấy ngày đuổi giặc khỏi Thăng Long hơn bảy trăm năm trước. Tôi cũng là người lính Việt chân đất nón dấu, cầm lấy ngọn giáo của Nhân dân, đêm nay về quỳ hôn lên chân ngựa đá…”.
Bút ký “Huyền thoại một con đường” của nhà thơ, nhà văn Lương Ngọc An là một cách kể chuyện về một con đường chiến lược, một huyết mạch giao thông trên hành trình xuyên Á ở Quảng Trị: Quốc lộ 9. Tác giả đắm mình trong ký ức của con đường thượng đạo xuyên sơn rồi miên man cảm xúc với ngày hôm nay của vùng quê dọc theo Đường 9, một con đường lịch sử đi từ chiến tranh khốc liệt đến hòa bình, yên ấm, một con đường chạy từ quá khứ đến tương lai.
Nếu truyện ngắn “Trăng lạnh” của tác giả Phạm Xuân Hùng tái hiện Chúa Tiên Nguyễn Hoàng khi vào trấn nhậm đất xứ Thuận Hóa với hình tượng của một bậc anh hùng cái thế, không những có tài thao lược mà còn thu phục được nhân tâm bởi đạo lý thương người, độ lượng, vị tha, kể cả với những cựu thù bị bắt làm tù binh, thì “Vùng rừng sáng” của Nguyễn Thị Lê Na là một bài ca đẹp và thi vị về mối tình sơn cước giữa những con người nhân hậu.
Tiểu luận phê bình “Thử vén bức màn kinh dị, huyền bí của tập thơ “Điêu tàn”" của nhà giáo, nhà thơ Mai Văn Hoan là một bài viết thú vị bởi những phát hiện riêng về tập thơ của Chế Lan Viên. Theo tác giả, đằng sau những yếu tố kinh dị, huyền bí chính là khát vọng hòa bình, là tình yêu đôi lứa mà thi nhân muốn ký thác. Cách nhìn này có thể xem như một gợi mở khi cảm thụ, tìm hiểu và phân tích tư tưởng nghệ thuật của một nhà thơ lớn hàng đầu của văn học Việt Nam hiện đại.
Còn nhiều tác phẩm thơ, văn xuôi có chất lượng của những tác giả khác mà trong khuôn khổ của một bài báo không thể nói hết. Hy vọng cuốn sách này sẽ đến tay nhiều bạn đọc, nhất là những ai nặng lòng với quê hương Quảng Trị, tâm huyết với khát vọng hòa bình.
Phạm Xuân Dũng









