QTO - Chắc chắn chị còn lưu lại những ngày ấm áp cuối năm ở làng quê Quảng Trị, tình cảm gia đình yêu thương và tiếng cười giòn của các em thơ, tiếng hát của những chàng sinh viên Huế cùng tiếng guitar bập bùng bên lửa ấm…
"Trẻ đẹp quá chị ơi”. “Em gái của anh luôn xinh đẹp, trẻ trung”…
Đó là những bình luận khi chị Thu Hương của tôi đưa một status ngắn nào đó với hình ảnh kèm theo. Nhìn ảnh chị, không ai biết chị đã trên tuổi 60. Người phụ nữ sống ở Hà Nội với cuộc đời nhẹ nhõm của người hưu trí sau hàng chục năm công tác, với ông chồng là một cựu quan chức doanh nghiệp lớn chiều vợ hết mực và rất lành hiền; con trai thành đạt, sự nghiệp vững vàng.
Những ngày Hà Nội thời bao cấp
Đó là hạnh phúc của đời người. Nhìn chị xinh đẹp, tươi vui, ít ai nghĩ một thời cũng vất vả, nhưng nghĩ kỹ lại thì nếu là con gái Hà Nội gốc, con gái phố cổ thì thời đó hầu như ai cũng trải qua cuộc sống khó khăn. Dĩ nhiên, chị tôi, con gái một của o tôi, cùng với thế hệ của chị, đã đi qua những tháng ngày đó, bằng cách này hay cách khác, bằng nghị lực và tình yêu của tuổi trẻ, một thời…
Tháng 4/1975, từ Đà Nẵng được giải phóng, tôi theo bà nội ra thăm con cháu ở Hà Nội và ở lại học lớp 7 Trường cấp 2 Thanh Quan trên phố Hàng Cót khi vào năm học mới sau đó mấy tháng. Lúc này o tôi làm cán bộ tại Phòng Tổ chức - Hành chính của cơ quan Văn phòng Bộ Giáo dục tại số 14 Lê Thánh Tôn. Khu hành chính gồm tòa nhà văn phòng là biệt thự cũ, những dãy nhà làm việc đơn sơ cho các bộ phận và là nơi nghỉ lại cho cán bộ của ngành từ các tỉnh về Hà Nội công tác. Ở giữa là một hầm tránh bom xây kiên cố và một nhà ăn tập thể.
![]() |
| Làng Mai Xá Chánh hôm nay - Ảnh: B.P.T |
Hai mẹ con (o tôi và chị) sống trong căn phòng tập thể. Sát trong cùng là chú Thuyên, một người làm hậu cần của văn phòng, chú có tay nghề mộc rất khéo và đêm đêm rảnh rỗi thường đánh đàn bầu. Tôi về ở với o trong dãy nhà ngoài, gần nhà ăn tập thể sau khi ở với các bác một thời gian. Lúc này, Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên vừa mất, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình lên thay. Công việc và nhịp sống ở khu nhà vẫn đều đặn trôi. Tôi nhớ thời đó Hà Nội hầu như những buổi trưa cán bộ, công nhân viên đều ăn nhẹ, gọi là “ăn thông tầm”, đến bữa mỗi người thường được phát ba cái quẩy hoặc bát xôi, cái bánh bao…
Tôi thường đi bộ ra bờ Hồ Hoàn Kiếm rồi nhảy tàu điện đến trường (đường tàu điện Mơ - Bưởi chạy qua trường tôi học), cũng khá thuận tiện. Tan học, tôi sắp hàng ở cửa hàng rau xanh, thực phẩm góc công viên nhỏ gần đường Lê Thánh Tôn - Lý Thường Kiệt để mua rau xách về; chiều chiều trèo cây sấu trong sân cơ quan, hái trái cho o nấu canh; tối đi theo đám bạn bắt ve dọc những cổ thụ quanh khu phố…
Lúc này, chị Thu Hương học trường cấp ba gần nhà. Chị 15 tuổi, đã ra dáng thiếu nữ xinh đẹp, ngoan hiền. Cuối tuần, căn nhà của o rộn tiếng cười vui khi bạn của chị Kim Quy, con bác ruột tôi (lúc này đang học tại Trường đại học An ninh) và các bạn học các trường ở Hà Nội (là con em miền Nam đang học ở miền Bắc như chị tôi) cũng ghé về thăm o, được o nấu món ngon đãi các cháu xa nhà, xa quê.
Sinh viên Huế về làng ăn Tết
Rồi tôi trở lại quê ở làng Mai Xá, xã Gio Mai, nay là xã Cửa Việt, tỉnh Quảng Trị, đi học ở quê nhà. Các anh của tôi, người lên cấp ba, người vào đại học. Tôi biết tin chị thi đậu vào Trường đại học Sư phạm Huế. Hẳn nhiên, đó cũng là sự lạ thời ấy, bởi dân Hà Nội mà vào Huế học trong cách nghĩ của nhiều người là “ngược đời”. Ở nhà, ở thủ đô sung sướng không chịu, lại vào Huế những năm khó khăn nhất. Tôi không quan tâm chuyện đó, mà nói như ba tôi, “cháu vào học trong Huế gần quê mẹ, gần các cậu và các em thì vui”…
Nên cái Tết năm đó, chị về làng ăn Tết với gia đình tôi, ai cũng vui. Nhưng lúc đó tỉnh Bình Trị Thiên cũng như nhiều tỉnh khác, những ngày cuối năm thường thiếu gạo, nhiều nơi đói quay quắt. Cái Tết là niềm vui của con trẻ song là nỗi lo của người lớn, lo sốt vó. Ngày thường thiếu ăn là chuyện phải chấp nhận vì hoàn cảnh, nhưng năm hết Tết đến thì phải đón Tết sao cho tươm tất. Nhất là khi nhà có khách quý, có cháu gái cưng về ăn Tết cùng gia đình. Đó cũng là sự kiện ở làng tôi ngày ấy, nhiều người tới thăm, xem mặt “con gái o Hướng, cháu gái cậu Hà”, chuyện trò rồi khen chị xinh, ngoan, hiền.
Bạn cùng trang lứa anh cả của tôi, cũng cùng tuổi hoặc hơn chị vài tuổi, đang học đại học ở Huế cũng nhiều, nên chị về quê ăn Tết rất vui. Những người trẻ đó, dù gian lao vất vả nhưng luôn yêu đời, ngày ra đồng, ra vườn phụ việc, tối về quây quần đàn hát rất vui. Chị nói: “Em thấy chưa, chị vào Huế học vì chị yêu thích Huế đã đành mà học ở Huế lại gần bà con thân thuộc, có bạn học cùng trang lứa là các anh chị em ở quê”…
Cũng may mắn là thời điểm đó, cả làng cùng ăn bo bo song nhà tôi có gạo cho bà nội và em út còn nhỏ. Số gạo này là do mạ tôi tảo tần chạy chợ Đông Hà, Gio Linh và do tôi cùng ba làm nò sáo trên sông, tôi cào chắt chắt bán cũng kiếm được tiền mua gạo. Không phải tôi nhắc nghèo kể khổ nhưng quả thật những ngày tháng đó ăn bo bo nhiều đến độ khi mở nồi ra thấy bo bo là nhiều người quay mặt đi, giấu nỗi buồn. Bo bo hầm thật lâu, vẫn không thể mềm, nhừ, nhai bo bo chỉ để cốt no, đánh lừa dạ dày đang đói mà thôi. Những lúc đó thèm cơm vô cùng, dù chỉ là cơm độn khoai sắn, mà có hơi cơm cũng ấm lòng…
Yêu thương còn mãi
Chị về ăn Tết, nhà không ăn bo bo nữa song vẫn cơm độn khoai, sắn. Tết thì dĩ nhiên phải là cơm trắng, thịt thì được hợp tác xã chia cho từng hộ gia đình. Ba tôi đã chuẩn bị sẵn nếp và đậu xanh, lá chuối, cùng mạ tôi và các anh gói bánh tét, riêng ba gói thêm mấy cặp bánh chưng rất đẹp để cúng trên bàn thờ.
Những ngày này, chúng tôi phụ ba dọn dẹp, trang hoàng nhà cửa, bàn thờ đón Tết. Đêm giao thừa. Ba tôi khấn vái cầu cho bà nội tôi khỏe, gia đạo an khang, mưa thuận gió hòa, làng quê no ấm. Chị Thu Hương ngồi giữa tình thương ấm áp của gia đình. Bên chị là bà nội tôi (chị gọi là bà ngoại), ba mạ tôi và chú Thạch, các anh em tôi -những đứa em của chị bởi o là con đầu của ông bà nội tôi. Cả nhà chuyện trò vui vẻ, ngày mồng 1 đến trong giấc ngủ ngon để sáng hôm sau đi thăm bà con dòng họ, rộn rã tiếng nói cười trên những đường quê…
Những ngày cận Tết tất bật rồi cũng qua. Các em nhỏ cũng đã quen dần, quấn quýt với chị. Đêm 29 Tết, bên nồi bánh chưng, các anh chị lớn chuyện trò, ca hát, đám nhóc chúng tôi chờ bánh chín, được ba vớt mấy cái bánh cấp ba làm thêm cho các con nhỏ. Chao ôi, mùi nếp thơm, những chiếc bánh cấp tuổi thơ ngon lạ lùng. Được ăn miếng bánh xong đứa nào cũng nghẹo ra trên cái nong mà ngủ, mấy anh lớn phải bồng vào nhà…
Tôi lớn dần lên, biết chuyện năm ấy có nhiều nhà không đủ gạo ăn, có nhà làm bánh tét bằng hạt bo bo thay nếp. Cũng màu lá chuối, cũng hình khối tròn, nhưng gói lại nỗi buồn để cùng đón năm mới, mong cho cuộc sống nhẹ nhàng hơn. Và hầu như cũng chỉ năm đó thôi, năm sau làng tôi không còn nhà nào gói bánh tét bằng bo bo nữa…
Bà nội, ba tôi và chú Thạch đều đã về trời. Chúng tôi cũng đã rời quê vào Nam lập nghiệp. Tết này - cũng như nhiều Tết nữa - chị đâu về quê ăn Tết với bà, với cậu như xưa. Làng quê cũng đã đổi thay nhiều, cuộc sống ấm no, an lành, chuyện đau buồn xưa đều là dĩ vãng. Chắc chắn chị còn lưu lại những ngày ấm áp cuối năm ở làng quê Quảng Trị, tình cảm gia đình yêu thương và tiếng cười giòn của các em thơ, tiếng hát của những chàng sinh viên Huế về làng dịp Tết trong những đêm cuối năm, tiếng guitar bập bùng bên lửa ấm…
Bùi Phan Thảo









