Ký ức chiến tranh qua 'Những mùa hoa ban trắng'

  • 06:51, 04/10/2026
  • icon facebook
  • icon youtube
  • icon titok

QTO - Hoàng Minh Đức vừa cho ra mắt tập truyện ngắn “Những mùa hoa ban trắng” (Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2026). Tôi may mắn được đọc khá nhiều truyện ký của anh. Ở Quảng Trị hiện nay, anh là một trong những cây bút văn xuôi chủ lực. Vốn sống và kho tư liệu của anh khá phong phú. Anh là người chịu khó đi, chịu khó đọc, chịu khó viết. Tập truyện ngắn này chủ yếu ghi lại những khoảnh khắc lịch sử đáng nhớ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Không phải tự nhiên Hoàng Minh Đức chọn đặt tiêu đề cho tập truyện ngắn này là "Những mùa hoa ban trắng". Với tôi, đây là một truyện ngắn ấn tượng nhất trong tập. "Những mùa hoa ban trắng" hội tụ phong cách viết truyện ký của anh. Đó là sự pha trộn giữa truyện và ký. Ký của anh có yếu tố truyện và truyện của anh có yếu tố ký. Khi viết ký, anh chủ yếu tường thuật lại một cách trung thực những người thật, việc thật nhưng xen vào một số tình tiết hết sức hấp dẫn không thua gì truyện.

Khi viết truyện, anh thiên về hư cấu, nhưng thỉnh thoảng xen vào một vài nhân vật, sự kiện có thật ngoài đời. Chẳng hạn trong trường đoạn buổi gặp gỡ đầu tiên giữa chú Khảnh và thím Bưởi (Những mùa hoa ban trắng): “Lúc đó có một chiếc xe Zép dưới xuôi lên dừng lại. Bước trên xe xuống là một người sĩ quan cao to, mặc áo trấn thủ, dáng đi nhanh nhẹn. Ông đến làm việc với Ban Chỉ huy”.

Mãi sau này chú Khảnh mới biết đó là Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên. Cũng trong cuộc gặp gỡ tình cờ giữa chú Khảnh và thím Bưởi, Hoàng Minh Đức tái hiện một cách sinh động, vui nhộn, đậm chất dân gian.

Tập truyện ngắn Những mùa hoa ban trắng của tác giả Hoàng Minh Đức - Ảnh: M.V.H
Tập truyện ngắn "Những mùa hoa ban trắng" của tác giả Hoàng Minh Đức - Ảnh: M.V.H

Khi đơn vị chú Khảnh gặp đoàn dân công đang ngồi nghỉ ở lán bên đường, một chiến sĩ cất tiếng hò: "Bộ đội mà gặp dân công/Như cá gặp nước, như rồng gặp mây". Chợt thấy chú Khảnh đang gánh hai cái nồi, một cô cất cao giọng hò: "Trên đời em chẳng yêu ai/Yêu anh bộ đội gánh hai cái nồi". Hò xong, cô nhìn chú Khảnh một cách tinh nghịch. Biết các cô là dân Thanh Hóa, chú Khảnh tấn công luôn: "Sông Mã mà gặp sông Gianh/Nước về một cửa như anh với nàng". Không hề run sợ, cô gái hò đối lại: “Bao giờ giặc sạch sành sanh/Hoa ban nở rộ theo anh em về…”. Cô gái đó chính là thím Bưởi-vợ chú Khảnh sau này.

Bây giờ những màn hò đối đáp đậm chất dân gian như thế gần như đã lùi xa về dĩ vãng. Thật tiếc lắm thay! Ký ức về trận đánh ở đồi A1 trong Chiến dịch Điện Biên Phủ cũng được tác giả tái hiện như một thiên phóng sự chiến trường: “Đã qua một đêm tiến công dồn dập nhưng sáng 31/3, trung đoàn chỉ mới chiếm được một phần ba quả đồi ở phía Đông. Bọn địch chỉ chờ mặt trời ló lên phía Đông trên dãy Hồng Lếch là tung ra một lực lượng lớn có xe tăng, pháo binh chi viện hòng chiếm lại. Bọn địch dựa vào hầm ngầm, công sự kiên cố, chúng liên tục phản kích hòng đẩy ta xuống chân đồi. Ta và địch giành đi giật lại từng thước đất”.

Còn đây là ký ức về những năm tháng chống Mỹ cứu nước ở Quảng Bình (nay là Quảng Trị): “Làng tôi gần bến phà Gianh, trở thành cái túi bom khổng lồ của không quân Mỹ. Đánh ở đâu về thừa bom là chúng trút xuống”. Bởi thế nên “hầu như tuần nào làng tôi cũng có người chết”. Chỉ mấy dòng ngắn ngủi, tác giả đã nói lên sự tàn khốc của chiến tranh và tội ác tày đình của kẻ thù xâm lược. Còn đây là ký ức về ngày 30/4/1975: “Cả làng tôi vang tiếng hò reo. Nhiều người nổ pháo ăn mừng. Người người đổ ra đường. Nhà nhà treo cờ đỏ sao vàng bay phấp phới…”.      

Cũng viết về lớp cha anh trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ nhưng ở truyện ngắn "Ký ức người lính", Hoàng Minh Đức đi sâu khai thác những tình huống éo le, những hiểu lầm đáng tiếc do chiến tranh đưa đến. Nhân vật chính trong "Ký ức người lính" là ông Thu-người mà bao năm nay dân làng ông cho là kẻ phản bội đi theo giặc. “Cái án theo giặc đã bôi đen lý lịch ông đến cuối cuộc đời đến nỗi ông chẳng dám về quê”. Trước Cách mạng tháng Tám, ông Thu đã từng bị giặc Pháp bắt giam ở Hỏa Lò. Trong những ngày sục sôi của Tổng khởi nghĩa, ông đã cùng đồng đội vượt ngục về làng tham gia xây dựng chính quyền địa phương.

Giặc Pháp quay lại gây hấn ở Nam bộ, ông gia nhập chi đội Lê Trực ở Quảng Bình. Ông được giao nhiệm vụ đi trinh sát các cánh quân của địch để đặt bom, gài mìn. Trên đường vào làng chiến đấu Cự Nẫm, không may ông bị lính Pháp bắt. Chúng ép ông dẫn đường. Giữa đường, ông bất ngờ đá sợi dây nối với quả mìn do chính tay ông cài đặt. Quả mìn phát nổ làm tên Việt gian chết ngay tại chỗ và hai lính Pháp bị thương. Hai cẳng chân của ông cũng không còn.

Sự cố này chỉ một mình ông biết. Người cùng đi đặt mìn với ông đã bị bọn Pháp bắn chết trước đó. Ông được bọn Pháp chở vào Đồng Hới chữa trị và cấp cho cái “Bảo quốc Huân chương” do “có công” cứu tên chỉ huy thoát chết. Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, ông Thu theo quân đội Pháp vào Nam, rồi định cư tại Huế. Đồng đội ai cũng nghĩ ông là kẻ phản bội. Mãi đến khi biết ông chính là người đã cưu mang, nuôi nấng đứa con trai của một chiến sĩ quân giải phóng (sau này trở thành sĩ quan chỉ huy) nỗi oan của ông mới được hóa giải.

Ở truyện ngắn "Bí mật ông ngoại", nhân vật chính thuộc thế hệ tiếp nối thế hệ cha anh. Nếu chú Khảnh và ông Thu trải qua cả hai cuộc chiến tranh, thì Quy-nhân vật chính trong "Bí mật ông ngoại"-chỉ trải qua cuộc kháng chiến chống Mỹ. Quy là một gã đàn ông hào hoa phong nhã mà không hiểu sao lại chẳng chịu lấy vợ. Có người quả quyết anh ta mắc chứng lập dị. Có người còn đồn thổi anh ám ảnh vì bị kỷ luật bởi đơn vị thu dung do anh chỉ huy bị bọn thủy quân lục chiến đánh úp. Lại nghe nói có một phụ nữ dưới Ba Đồn chuyên thu mua dê, cua, ba ba vu cho anh làm cô ta có bầu, nằng nặc đòi anh tổ chức đám cưới.

Để chứng minh mình bị vu oan, Quy buộc phải tiết lộ bí mật mà bấy lâu anh vẫn giữ kín cho người bạn chí cốt biết. Hóa ra là… trong trận đánh ở đồi A Bia năm 1969, Quy bị trúng một mảnh đạn M79... Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Quy xuất ngũ về làng. “Gia đình anh chẳng còn ai. Trận bom B52 ngày mùng 2/1/1973, giặc Mỹ ném xuống giết chết 152 người làng trước khi chúng cuốn cờ về nước”.

Một lần nữa Hoàng Minh Đức cho nhân loại thấy sự tàn ác của chiến tranh. Gần như câu chuyện nào trong "Những mùa hoa ban trắng" viết về hai cuộc chiến tranh, những nhân vật chính đều chịu mất mát, đau thương cả thể xác lẫn tinh thần... Đó là cái giá khá đắt để non sông được thu về một mối.

Tập truyện ngắn "Những mùa hoa ban trắng" là một bước tiến mới trong sự nghiệp cầm bút của Hoàng Minh Đức. Phong cách viết truyện ngắn của anh hoàn thiện dần. Qua tập truyện ngắn này, những ký ức chiến tranh được anh soi chiếu với những góc nhìn chân thật hơn, đa chiều hơn và nhân văn hơn.

Mai Văn Hoan

tin liên quan

Những trang giấy 'kể chuyện' trăm năm
Những trang giấy 'kể chuyện' trăm năm
QTO - Băng qua những biến động của thời gian và dâu bể lịch sử, đằng sau lớp bụi không gian nơi đình làng, nhà thờ họ ở vùng đất Quảng Trị là hàng trăm sắc phong, gia phả, thần phả đã ngả màu. Những trang giấy dó mỏng manh ấy không đơn thuần là ký ức cổ xưa, mà là “chứng minh thư” lặng lẽ ghi chép hành trình khai cõi, tụ cư và giữ đất của bao thế hệ tiền nhân.
Tình yêu Tổ quốc, quê hương và nguồn cội trong trái tim danh họa tài hoa
Tình yêu Tổ quốc, quê hương và nguồn cội trong trái tim danh họa tài hoa
QTO - Danh họa Lê Bá Đảng-người mang nghệ thuật Việt Nam vươn tầm thế giới. Thế nhưng, phía sau hào quang rực rỡ giữa kinh đô ánh sáng Paris, là một trái tim chưa bao giờ nguôi đau đáu về quê hương, Tổ quốc, nguồn cội với những kiệt tác nghệ thuật để đời.
Nhóm văn nghệ 'Nguồn Hàn', dấu son thời kháng Pháp
Nhóm văn nghệ 'Nguồn Hàn', dấu son thời kháng Pháp
QTO - Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, giữa muôn trùng khó khăn, thiếu thốn và nguy hiểm, đất Quảng Trị vẫn hình thành nên một tổ chức văn nghệ cách mạng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc giai đoạn 1947-1952. Đó là nhóm văn nghệ “Nguồn Hàn”.