


Hơn một thế kỷ qua, dòng họ Nguyễn Văn ở xã Bắc Trạch vẫn gìn giữ một bản sắc phong của vua Khải Định ban năm 1924 cho Đại lang tôn thần Nguyễn Văn Mưu-người có công khai hoang, lập làng và có nhiều đóng góp với vùng đất Bắc Trạch xưa. Bản sắc phong được viết trên giấy dó, dài khoảng 1,4m, rộng 0,5m, các họa tiết trang trí bằng nhũ vàng. Phần chữ Hán và dấu triện của vua Khải Định vẫn còn tương đối rõ. Theo bản dịch được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, sắc phong được ban ngày 25/7/1924, cho phép làng Đặng Đề, nay thuộc xã Bắc Trạch, thờ phụng Nguyễn Văn Mưu.

Trải qua hơn hàng trăm năm lưu giữ, với nhiều thế hệ con cháu dòng họ Nguyễn Văn, sắc phong ấy không đơn thuần là một hiện vật cổ. Đó còn là niềm tự hào máu thịt về dòng tộc, về vùng đất đã nuôi dưỡng bao đời. Chị Nguyễn Thị Lệ Thanh, hậu duệ đời thứ 7 của dòng họ Nguyễn Văn chia sẻ, bản thân chị đã trực tiếp đưa sắc phong đến Viện Nghiên cứu Hán Nôm để dịch nghĩa và chứng nhận. Từ những dòng chữ tưởng như xa lạ với người hôm nay, hậu thế như chị hiểu rõ hơn về vị thần được nhà vua sắc phong, về công lao khai khẩn của tiền nhân và cả quá trình hình thành cộng đồng cư dân trên vùng đất này. Theo nội dung được dịch, ông Nguyễn Văn Mưu được phong Dực Bảo Trung Hưng, Linh Phù Tôn Thần, được ghi nhận là người có công với quê hương và được nhà vua cho phép Nhân dân tiếp tục phụng thờ.

"Từ những dòng chữ tưởng như xa lạ với người hôm nay, hậu thế như tôi hiểu rõ hơn về vị thần được nhà vua sắc phong, về công lao khai khẩn của tiền nhân và cả quá trình hình thành cộng đồng cư dân trên vùng đất này".
Một bản sắc phong vì thế trở thành chiếc cầu nối giữa lịch sử triều Nguyễn với lịch sử một làng quê. Nó chứng minh rằng phía sau những địa danh quen thuộc là cả một hành trình gian khổ mở đất, định cư mà sử liệu chính thống đôi khi chưa thể ghi chép vẹn toàn. Đó cũng là giá trị vô giá của kho thư tịch cổ đang tản mát trong Nhân dân dọc dải đất Quảng Trị.

Theo nhà nghiên cứu Tạ Đình Hà, Chi hội trưởng Chi hội Khoa học Lịch sử Bắc Quảng Trị, thư tịch cổ của vùng đất này khá phong phú, gồm sắc phong, thần phả, gia phả, văn bia… Những tư liệu ấy hiện vẫn được lưu giữ trong các đình làng, nhà thờ họ và gia đình. Phần lớn các di tích đình làng đều còn ít nhiều dấu tích thư tịch, trong khi các dòng họ thường lưu giữ gia phả qua nhiều thế hệ. Điều quý giá là từ những trang giấy cũ ấy, hậu thế có thể tìm lại nguồn cội, như gia phả dòng họ Nguyễn Duy ở xã Đông Trạch ghi dấu quá trình những cư dân từ vùng đất Cương Gián thuộc huyện Nghi Xuân cũ (Hà Tĩnh), vượt biển vào vùng đất mới lập nghiệp gần 400 năm trước.

Ông Lê Văn Tỉnh, Trưởng ban điều hành làng Ái Tử, xã Ái Tử cho biết, tại chùa Giác Minh-ngôi cổ tự song hành với quá trình tụ cư, lập làng của những lưu dân Việt hiện vẫn lưu giữ một số đạo sắc phong gắn với lịch sử hình thành và đời sống tín ngưỡng của cộng đồng cư dân nơi đây. Qua thời gian, những đạo sắc ấy đã trở thành một phần ký ức của làng, được Nhân dân trân trọng gìn giữ như dấu tích xác tín cho sự hiện diện của tiền nhân. Đặc biệt, ký ức về những đạo sắc không chỉ nằm trong không gian thờ tự mà còn được tiếp nối trong đời sống cộng đồng qua lễ hội rước sắc tổ chức vào tháng 6 âm lịch hằng năm. Trong ngày lễ, sắc phong được khai mở, rước trong không khí trang nghiêm, thành kính trước sự chứng kiến của dân làng.
"Lễ rước sắc vừa là dịp để cộng đồng tưởng nhớ các bậc tiền nhân, vừa thể hiện sự trân trọng đối với những tư liệu đã đi cùng lịch sử hình thành và phát triển của làng. Qua nghi lễ được trao truyền qua nhiều thế hệ, những đạo sắc không nằm yên trong không gian thờ tự mà tiếp tục hiện diện trong đời sống cộng đồng".
Mỗi loại thư tịch vì thế có một cách kể riêng.
Sắc phong kể về sự ghi nhận của triều đình đối với thần linh, nhân vật và cộng đồng.
Gia phả lần tìm huyết thống, nguồn gốc và hành trình của một dòng họ.
Thần phả lưu giữ ký ức về thành hoàng, những người có công với làng.
Văn bia ghi dấu sự kiện, con người và không gian lịch sử.
Đặt cạnh nhau, chúng tạo nên một hệ thống ký ức phong phú về vùng đất.

Theo ông Tạ Đình Hà, qua nhiều cuộc khảo sát ở các làng quê, hiếm nơi nào còn lưu giữ được số lượng sắc phong khá nguyên vẹn như làng Vĩnh Lộc, nay thuộc xã Nam Gianh. Trải qua hàng trăm năm, làng hiện còn 30 sắc phong qua các triều đại; trong đó có những vị thần được phong nhiều lần. Riêng Điện Thành hoàng làng Vĩnh Lộc hiện lưu giữ 7 sắc phong cho Thượng thư Đại Hành Khiển Trần Bang Cẩn-người được ghi nhận có công dẹp giặc Lồi và được dân làng tôn làm Thành hoàng.





Dẫu đang được gìn giữ bằng tất cả sự tôn kính và cẩn trọng thì sắc phong hay những tư liệu Hán Nôm cổ cũng đang phải đối diện với sự tàn phá khắc nghiệt của thời gian. Giấy dó, giấy sắc vẫn chịu tác động của độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng, nấm mốc và côn trùng. Những cách bảo quản truyền thống như cuộn tròn, đặt trong hộp kín, để trên ban thờ… vẫn khiến nhiều thư tịch cổ bị ố màu, mối mọt, rách nát, chữ viết phai mờ.

Nhà nghiên cứu Trương Quang Phúc, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Hán Nôm tỉnh Quảng Trị cho biết, năm 2017, ông cùng nhóm nghiên cứu đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu, sưu tầm và dịch một số tư liệu Hán Nôm quan trọng có liên quan đến tỉnh Quảng Bình”. Ròng rã hơn một năm trời, nhóm nghiên cứu đã tiến hành điền dã, sưu tầm và dịch thuật các tư liệu Hán Nôm trên địa bàn, thực tế hơi xót xa là nhiều tài liệu quý đã bị thời gian bào mòn, dẫn đến hư hỏng, mất mát nhiều. Đó là nghịch lý của di sản: Càng là báu vật lại càng dễ tổn thương nếu thiếu phương pháp bảo tồn khoa học.

Thời gian có thể làm ố vàng tệp giấy dó, làm phai đi vết triện son hay khiến mép sách mục rách theo từng mùa mưa nắng. Nhưng khi những ký ức Hán Nôm được giải mã, số hóa và trả về đúng vị trí trong đời sống cộng đồng, dòng chảy lịch sử sẽ không bao giờ bị đứt gãy. Níu giữ thư tịch cổ, suy cho cùng, không chỉ là nâng niu những tàn tích của quá khứ, mà là cắm một cột mốc tâm linh giữa hiện tại để hậu thế biết mình từ đâu tới và dựa vào đâu để vững vàng bước tiếp.
Về trang chủ





