QTO - Nhà văn Nga R. Gamzatop từng nói, ngọn lửa trong trái tim người mẹ là ngọn lửa ấm áp nhất. Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng, bất biến. Vậy nên, không lạ, các loại hình văn học nghệ thuật đều sáng tác về đề tài người mẹ; âm nhạc hay thi ca về người mẹ luôn tạo nên sự đồng cảm sâu sắc. Thực tế, nhiều tác phẩm đã trở nên bất hủ.
1. Nhà thơ Đỗ Thành Đồng cũng như các nhà văn, nhà thơ khác, có “người mẹ” Tổ quốc và người mẹ sinh thành. Trong sáng tạo nghệ thuật, anh dành nhiều tâm huyết cho đề tài về mẹ. Năm 2025, anh xuất bản tập thơ “Lục bát mẹ”, NXB Thuận Hóa, gồm 42 thi phẩm; năm 2026, xuất bản truyện ký “Chuyện mạ kể”, NXB Thuận Hóa.
Ngoài đời, Đỗ Thành Đồng là một văn nhân đầy nam tính: Cương trực, thẳng thắn (cá tính đến mức ngang như cua); nhưng khi nhắc đến mẹ (Quảng Bình cũ gọi là mạ), lòng anh chùng xuống, mắt cay cay... Tôi đọc ra điều này, bởi từng được nghe nhiều câu chuyện anh kể về mạ, có mặt bên bàn thờ chứng kiến nghi lễ Chung thất, sau khi bà qua đời 49 ngày.
![]() |
| Nhà thơ Đỗ Thành Đồng đi thực tế tại hồ Kẻ Gỗ (Hà Tĩnh) năm 2026 - Ảnh: N.Đ.H |
42 bài thơ trong “Lục bát mẹ” là những khúc ru. Thời bế bồng, anh được mẹ ru, đưa nôi cùng những bài dân ca, hò khoan gói đầy đạo lý; khi mẹ mất, anh ru mẹ bằng lục bát. Tôi cho rằng, nhớ thương, gọi ký ức về mẹ lên văn bản, không có thi pháp nào hiệu quả, tốt hơn lục bát.
Những ngày mạ vừa mất, nhìn đâu, Đỗ Thành Đồng cũng thấy bóng mạ.“Nhà ta có dột chẳng sao/thơ ta áo mỏng thế nào cũng khô/nhưng ta thương mẹ đơn cô/một mình với một bóng mồ ướt cong”, (trích "Ru mưa"). Ru mưa, nịnh cơn mưa cũng vì mạ đang đơn côi, cô quạnh dưới cỏ.
Đỗ Thành Đồng “mắc bệnh” ít ngủ, khó ngủ. Anh thường viết vào canh ba, canh bốn. Tôi biết điều này, không chỉ vì thời điểm sáng tác được tác giả đề rất cụ thể dưới mỗi tác phẩm; mà còn, vì Đỗ Thành Đồng hay trao đổi trong đêm, dẫu là trên nền tảng số. Nhiều bài thơ anh đưa lên trang cá nhân, tôi là bạn đọc đầu tiên.
“Mỗi đêm đốt một nhớ thương/mạ ơi con vẫn nghẹn hương khói lòng”, “mạ ơi, đã bốn năm rồi/chiều bên mộ mạ lại ngồi rưng rưng, (trích "Chiều bên mộ mạ"). Bài thơ này, Đỗ Thành Đồng viết lúc 3 giờ sáng, thời điểm linh hồn mạ đã qua “9 tầng trời”, hướng về "Cực Lạc". Thế nhưng hình ảnh người mẹ luôn nặng trĩu trong lòng, anh nhớ thương, day dứt khôn nguôi.
Nhìn mặt trời, nhìn nắng, nhìn mưa, nhìn trăng..., Đỗ Thành Đồng đều liên tưởng đến mạ. Hay nói cách khác, thiên nhiên, cảnh vật... trở thành không gian, thời gian nghệ thuật về mạ. “Người về úp mặt vào sông/còn con muốn úp vào lòng mạ thôi”, (trích "Dù có vô tình").
Thơ Đỗ Thành Đồng viết về mẹ là tiếng thơ hiếu nghĩa, mang vẻ đẹp cốt nhục, tri ân. Đọc “Lục bát mẹ” trong đầu tôi vang lên câu nói bất hủ của nhà thơ Maksim Gorky (1868-1936): "Tất cả niềm kiêu hãnh của thế giới từ các bà mẹ. Nếu không có mặt trời, thì hoa đâu có nở, không có tình yêu thì đâu có hạnh phúc, không có phụ nữ thì đâu có tình yêu, không có bà mẹ thì đâu có thi nhân, đâu có anh hùng!”.
2. Dường như thơ chưa giúp Đỗ Thành Đồng nói hết tấm lòng với mẹ. Sau khi mẹ “nằm xuống” đến trước lễ Chung thất, anh còn viết nhật ký hằng ngày. Tôi ở Hà Nội nhưng cứ hình dung, Đỗ Thành Đồng hết nhìn vào di ảnh mạ, rồi lại ngước lên nhìn vào bao la, vừa thở dài, vừa viết.
Tôi biết điều này, bởi đã được đọc những dòng đầu tiên, hình hài nên truyện ký “Chuyện mạ kể” bây giờ. Giống như năm 2021, thời còn COVID-19, tôi cổ vũ anh làm thơ, và kết quả là tập “Tình nhân”, NXB Văn học năm 2022 ra mắt bạn đọc. Tác phẩm này, tôi cũng động viên.
“Theo anh” như vậy nên hiểu được “lận đận” khi “gõ cửa” xin giấy phép xuất bản. Nội dung sách xuyên suốt lịch sử nên nơi đòi cắt đoạn này, nơi đòi bỏ đoạn nọ, Đỗ Thành Đồng không chấp nhận. May sao NXB Thuận Hóa “tự tin”, đồng cảm.
Mạ Đỗ Thành Đồng sinh được 9 người con, 6 trai, 3 gái; anh là đứa con trai thứ 2 sau anh cả. “Tôi được ba mạ đánh giá là đứa con thông minh, nhưng ngỗ nghịch nhất. Tôi ham chơi và thích đàn đúm bạn bè. Người quê tôi gọi là loại siêng ăn nhác mần”, như anh chia sẻ.
![]() |
| Bìa tác phẩm “Lục bát mẹ” và “Chuyện mạ kể” - Ảnh: N.Đ.H |
Hiểu điều này, khi chưa nhận được “Chuyện mạ kể”, tôi có viết bài thơ “Mạ và Đồng”, hình dung: “Thằng Đồng bướng bỉnh đâu rồi/đầu khê khét nắng bãi trồi trụt sông/về cho roi đỏ cả mông/'Tổ cha'-mẹ mắng mà lòng xót đau”. Tôi chẳng khác gì. Do mải chơi, có thể là đánh bi, đánh khăng... với đám bạn, bố mẹ phải gọi ời ời. Nghe được tiếng gọi và tiếng dạ đáp lại, cha thường mắng: “Tổ cha mi, đưa dạ về đây?!”. Đoán thế mà đúng. “Trong 9 đứa con, nếu theo kiểu thương cho roi cho vọt thì tôi được mạ thương nhất”, như anh chia sẻ.
Đã là con, ai cũng được dạy và hiểu về hiếu thảo. Thế nhưng bé thì ham chơi, lớn lên thì đủ lý do (phần lớn do áp lực mưu sinh) nên lơ là; khi ngoảnh lại, cha mẹ đã già đi, còn cơ hội thì chẳng còn bao nhiêu. Vì vậy, sau khi cha mẹ mất, mới ân hận, nhận ra thiếu sót trong việc báo hiếu thì đã quá muộn.
Đúng là khi những đứa con trưởng thành, qua các ngưỡng “Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà”, mới hiểu hơn sự cực nhọc và tấm lòng của bậc sinh thành. “Lục bát mẹ” và “Chuyện mạ kể” đều chứa chất sự ân hận, câu thơ hay dòng văn đều là những nét bút hình thành nên chữ “hiếu”.
Từ những dòng chữ đầu tiên, “Chuyện mạ kể” với tư cách là một truyện ký, với hành văn trần thuật, “giữ nguyên lối kể mộc mạc, trung thành với sự thật mà mạ tôi hoặc chứng kiến, hoặc nghe ông bà kể lại đã truyền đạt cho tôi”, (trích "Lời tâm sự"), trở thành một tác phẩm dày dặn, gồm 11 chương, hơn 250 trang sách.
Đỗ Thành Đồng sinh ra và lớn lên tại thị xã Ba Đồn (cũ), nay là phường Bắc Gianh, nơi giao nhau của Quốc lộ 1 và Quốc lộ 12A, bên bờ sông Giang huyền thoại. Ông vẫn thường tự hào về Thổ Ngọa, 1 trong 4 làng văn vật tiêu biểu, hội tụ đầy đủ các tiêu chí “danh hương” dưới thời Minh Mạng đến Tự Đức (1820-1883) là “Sơn-Hà-Cảnh-Thổ”.
Mạ của Đỗ Thành Đồng là người con thứ 7 và là con gái thứ 5 trong một gia đình có 10 người con. Nhiều đời trước ông, mệ (bà ngoại) đã là cư dân của làng Thổ Ngọa. Đó là một làng cổ, có lịch sử hình thành và phát triển hơn 555 năm. Theo huyền sử cũng như thư tịch để lại thì cái tên Thổ Ngọa có từ những năm 70 của thế kỷ XV. Theo giải thích của các bậc cao niên trong làng thì “Thổ Ngọa dịch nôm tiếng Tàu là đất nằm. Có người dịch trại thành đất lành”.
Đó thực sự là một ngôi làng văn hóa, với quần thể kiến trúc độc đáo như đình, đền và các miếu thờ… Ở đây có không ít giá trị văn hóa phi vật thể, đặc biệt là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (mồng 10 tháng 3 âm lịch) hằng năm.
Những lời mạ kể, đời sống, hoàn cảnh của một gia đình nhưng được đặt trong “không gian” lịch sử, văn hóa của một làng quê, thì không hẹp sau lũy tre làng. Câu chuyện mạ kể trải dài từ trước năm 1930, nạn đói năm 1945, rồi 9 năm “Trường kỳ kháng chiến”, đấu tranh chống Mỹ, thực hiện thống nhất đất nước. “Chuyện mạ kể” vì thế có giá trị tư liệu, lịch sử của một tác phẩm.
3. Nhà thơ Đỗ Thành Đồng kể: “Trong 49 ngày mạ ra đi, tôi đã viết được 46 status với gần 25.000 chữ. Đó là những câu chuyện mạ kể cho tôi nghe thời còn thích ngồi cạnh mạ. Bốn mươi năm qua, theo học hành, đi lính, đi làm, lấy vợ sinh con, bận kế sinh nhai đâu còn giây phút ngồi bên mạ thật lâu”, (trích "Chuyện mạ kể", tr127).
Đúng như tôi hiểu tâm trạng, tâm lý Đỗ Thành Đồng. Chỉ khi mạ ra đi, anh mới có thời gian ngồi kể lại trên trang giấy, trên màn hình máy tính. Nếu như trước đây, trong số 9 anh em, chỉ anh có hạnh phúc “được mạ tâm sự những điều sâu kín nhất”; thì đến lúc “khởi bút”, anh tin được mạ “phù hộ độ trì”. “Không có mạ phù hộ thì không thể nhớ hết những câu chuyện mạ đã kể trong hơn 40 năm qua”, anh nói thế và tôi tin.
Gấp lại “Chuyện mạ kể” trong đầu tôi như có ai đó, nhắc lại câu tục ngữ: “Công cha như núi Thái Sơn/Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Đỗ Thành Đồng thuộc về Thổ Ngọa, không ai “bứng” ông được khỏi cố thổ.
Và nữa, qua chuyện về tình cảm mạ con của Đỗ Thành Đồng, càng xác tín rằng, gìn giữ đạo hiếu luôn là nền tảng bảo đảm nền nếp, gia phong của mỗi gia đình Việt, thành tố tạo nên sự phát triển bền vững của một cộng đồng dân cư, một xã hội. “Chuyện mạ kể” ánh lên vẻ đẹp của thuần phong mỹ tục, nguồn cội.
Ngô Đức Hành










