QTO - Mùa xuân và Tết Nguyên đán từ lâu đã trở thành chất liệu quen thuộc của thi ca, là không gian để các nhà thơ suy niệm về thời gian, thân. phận, ký ức và hy vọng. Với các thi nhân Quảng Trị, những người viết trên một vùng đất từng gánh chịu nhiều biến động lịch sử, niềm vui sum họp ngày Tết thường đi kèm sự lắng đọng, như khoảnh khắc nhận diện chính mình trước dòng chảy sinh tồn. Thơ xuân của họ thiên về chiều sâu nội tâm, tiết chế những sắc màu rộn ràng sôi động của lễ hội. Chủ đề về thời gian, ký ức và các giá trị vững bền của đất quê, hồn quê truyền tải qua những cuộc đối thoại, tự vấn triết lí. Tiếng thơ của Văn Lợi, Hải Kỳ, Hoàng Vũ Thuật, Nguyễn Hữu Quý, Võ Văn Hoa, Võ Văn Luyến, Lê Minh Thắng, Đỗ Thành Đồng, Hồng Thế và Bạch Diệp đã hòa phối tạo nên diện mạo xuân mộc mạc, giàu suy tưởng và sáng trong rất riêng của Quảng Trị.
Thời gian nghệ thuật trong thơ Tết Quảng Trị thường được cảm nhận qua sự hòa bện giữa cảnh quan và đời sống. Trong Ngày cuối năm, Bạch Diệp kiến tạo thời gian như hành trình đi qua hai miền đối nghịch, từ xóm đồi lam lũ đến phố thị rộn ràng, rồi dừng lại ở “góc bếp ấm nhà mình”. Đó là chốn ký ức và hiện tại chạm vào nhau trong khoảnh khắc chuyển mùa: “Chiều cuối năm sương về như mưa/Lưng áo xa dần tiếng chuông mùa vọng/Ai đốt pháo ngang trời/Đường về gập ghềnh những bước chân tất tả/Cố một chút phía bên kia con dốc/Là rưng rưng góc bếp ấm nhà mình!”.
![]() |
| Xuân - Ảnh: T.A |
Với Lắng, Văn Lợi đưa người đọc bước vào vùng thời không tĩnh tại, chỉ một tiếng lá vàng rơi cũng đủ vẫy gọi tâm thức về sự hòa hợp của trời đất và sự chất chứa nỗi niềm của lòng người: “Lắng nghe tiếng lá vàng rơi/Thì ta mới hiểu đất trời giao thoa”.
Cố nhà thơ Hải Kỳ, trong Bài thơ cỏ biếc, đặt thời gian Tết vào sức sống hồi sinh của tự nhiên: “Đạn bom cày nát bãi bờ/Sau mưa gặp đến bất ngờ cỏ lên”. Cỏ mọc trên vùng đất từng bị bom đạn cày xới được coi là miền ký ức xanh của Quảng Trị, gợi dẫn đức tính kiên cường luôn đứng dậy của con người sau những tháng năm gian khó.
Đọc và cảm nhận khoảnh khắc giao thừa trong thơ Quảng Trị, ta như nghe được nhịp vận hành thầm lặng của vũ trụ. Thời gian là sự vận động và dịch chuyển không ngừng, chỉ khi thông qua sự tồn tại và biến đổi của vạn vật, thời gian mới hiện hình và được nhận biết. Nếu vạn vật đứng yên, dòng chảy thời gian trở nên vô nghĩa. Bởi vậy, giữa thời gian và vạn vật luôn tồn tại một mối tương tác song hành, thời gian làm đổi thay vạn vật, còn vạn vật là thước đo hữu hình của thời gian.
Thời gian một đi không trở lại, dẫu vẫn là giờ đó, ngày đó, tháng đó, mùa đó, nhưng thuộc tính đã khác, và vạn vật cũng đã mang một diện mạo khác trong dòng trôi ấy. Trong thơ Quảng Trị, ý thức về thời gian thường được đánh thức từ những xê dịch rất nhỏ của đời sống.
Hồng Thế tự đối chất thời gian khi quan sát sự xoay vần ngày tháng trong Ấy chà chà: “Tám năm nữa tháng chạp mới có ngày ba mươi/Tết Nguyên đán đến sớm một ngày/Người bán buôn thiếu đi một phiên chợ/Buồng chuối non có lớn kịp để cúng thờ”. Sự xê dịch nhỏ nhoi của một ngày đã làm lệch nhịp sinh hoạt, dẫn ông đến tri nhận giản dị mà dứt khoát: “Một ngày là hai mươi bốn giờ/cái gì đến rồi sẽ đến”.
Hoàng Vũ Thuật dùng chiếc lá để biểu đạt chu trình tái sinh sau những hao mòn mùa cũ: “Khi lá giã từ cành/vết thương nằm lại đó (…)/chiếc lá xanh mềm mại/chiều nay hiện dần lên” (Lá và cành). Lê Minh Thắng ghi lại dáng vẻ mong manh của tuổi trẻ: “Thanh xuân ngút ngàn trong bão tố/Niềm tin hạt sương gieo chiếc lá/Giọt nước rơi lên má em/Đọng lại những tháng năm” (Bóng thanh xuân).
Biết là bất khả nhưng Đỗ Thành Đồng vẫn cố níu thời gian vì “Sợ xuân em một dáng gầy/Mắt xanh theo những bóng ngày ra đi” (Tiếc xuân). Võ Văn Luyến trong Chào xuân soi chiếu tuổi già qua tiếng chào thân thương, đắng đót: “Xin chào nhé, hoàng hoa trong mắt biếc/Chút dung nhan gửi lại phía rong chơi/ Ta trút hết bao nhiêu lần nuối tiếc/ Mơ thanh xuân xuống đậu giữa môi cười”.
Những giọng thơ này đều đồng điệu trong tâm thế tự chiêm nghiệm trước bước đi của thời gian, lắng nghe sự trôi chảy của đời sống qua những vận động tế vi. Xuân trong thơ Quảng Trị vì thế như lời nhắc về sự tỉnh thức, sự sống cần được suy ngẫm để nhận ra trong chuyển động mỏng mảnh, dòng nhựa sống vẫn âm thầm dâng lên và sinh sôi nảy nở.
Cảm thức thời gian trong thơ xuân Quảng Trị hình thành từ những hình ảnh quen thuộc của đời sống, nâng lên thành ẩn dụ ám ảnh. Con người được đặt giữa vũ trụ rộng dài và thân phận hữu hạn để sự xoay vần của ngày tháng trở thành đối tượng chiêm nghiệm. Nhìn chiếc lá, Hoàng Vũ Thuật nghiệm suy về thân phận và sự chia lìa, đưa ra lời tự vấn đầy triết lý: “Tim ơi - xin đừng khóc/Cành cây tự giải bày/Sống nghĩa là xa cách/Duyên cớ nào ai hay” (Lá và cành). Lê Minh Thắng nhận ra sự phai mờ của tuổi trẻ qua chất liệu mong manh của “niềm tin hạt sương gieo chiếc lá”.
Đỗ Thành Đồng tiếp nối bằng nỗi day dứt hữu hình: “Tay mân mê ngón trẻ con/Sờ từng nhịp thở xuân mòn theo tay” (Tiếc xuân). Võ Văn Luyến soi chiếu tuổi tác bằng ánh nhìn từng trải để nhận ra giới hạn của cuộc đời: “Xin chào thôi, mùa xuân chừ xa quá/Em trắng tóc ta đâu còn xanh nữa” (Chào xuân).
Tết trong thơ Quảng Trị bao quát từ xóm núi, làng quê đến biên cương và đảo xa. Ở nơi đầu sóng, xuân trong thơ Võ Văn Hoa hiện lên với sức sống và niềm tin mãnh liệt: “Những gương mặt rắn rỏi/Gác cái hun hút đón cái dào dạt/Lấy niềm vui làm quà xuân gửi cho mẹ cho em (…)/Trái tim đảo ngập tràn hạnh phúc” (Gửi ngoài đảo xa). Không khí Tết được cảm nhận qua mây gió, vị muối và ánh trăng treo đầu sóng. Những con mắt thức cùng đảo, những gương mặt lặng lẽ gác gió giữ sóng để mùa xuân đến sớm trong niềm vui giữa biển trời thẳm xa.
Trở về đất liền, cảm thức xuân được Hải Kỳ gửi trao vào hình ảnh cỏ biếc, biểu tượng sức sống của vùng đất từng hứng chịu biết bao tháng ngày bom rơi đạn nổ. “Bao phen máu nhuộm đỏ đồng/Đất vùi xác giặc những vòng cỏ gai” đặt ra sự đối trọng giữa hủy diệt và hồi sinh, để rồi từ mất mát này bật lên mầm sống mới: “Sau mưa gặp đến bất ngờ cỏ lên” (Bài thơ cỏ biếc).
Thu hẹp không gian về mái nhà, thơ Văn Lợi đưa xuân trở lại với đời sống người phụ nữ trong bài thơ Lắng. “Xuân như lắng cả bốn mùa trong em” là cách nhà thơ nhận diện xuân qua sự tảo tần, nhẫn nại và lặng lẽ vun đắp. Cảm thức xuân gia đình còn được Nguyễn Hữu Quý nhìn qua lăng kính ấu thơ với niềm vui hồn nhiên: “Chẳng gì vui bằng mồng Một/Mở mắt đã nhận lì xì/Mẹ Cha - bà Tiên, ông Bụt/Tặng cho ta chuyện thần kỳ” (Tết cho ta bé lại). Tết vì thế là nơi neo giữ những ký ức tinh khôi, an lành và bền lâu.
Như vậy, dù ở đảo xa, đất liền, hay mái nhà, tất cả các tầng không gian trong thơ xuân Quảng Trị đều được kết nối bởi mạch cảm hứng xuân. Xuân đúc kết tinh thần gìn giữ, sức mạnh hồi sinh và những giá trị nhân bản được bồi đắp không ngừng theo thời gian.
Trong không khí đất trời hừng xuân, đọc những vần thơ xuân Quảng Trị, ta bắt gặp cảm quan và triết lý sâu rộng, thấm đượm hình ảnh lao động nhọc nhằn, triết lý nhân sinh, sự hy sinh lớn lao và tinh thần hồi sinh kiên cường của đất và người. Những hình ảnh người mẹ nơi xóm núi, người lính canh đảo xa, người già nhìn lại dốc cuộc đời, người trẻ chạm thoáng thanh xuân, cho đến lớp cỏ xanh kiên cường đội lên từ đất lửa... đã mang lại cho thơ xuân Quảng Trị sắc thái riêng, thâm trầm nhưng rạng ngời. Để rồi, mỗi độ Tết đến xuân về, đọc những vần thơ ăm ắp tình xuân, đẫm vị nhân sinh, ta càng trân quý hơn những con người đã sinh ra, lớn lên và lặng lẽ làm nên khí chất kiên cường của vùng đất này.
Hoàng Thụy Anh









