Đòn bánh tét của Tết đầu tiên sau ngày hòa bình

  • 06:41, 19/02/2026
  • icon facebook
  • icon youtube
  • icon titok

QTO - Chiều 30 Tết đầu tiên sau ngày đất nước hòa bình, đó là Tết Bính Thìn 1976. Giữa khoảng sân quê còn phảng phất mùi khói bếp, o tôi vồn vã, gọi vào: “Cụ mi mô rồi, tui cho đòn bánh tét cúng ông mệ”.

O tôi có dáng người dấu hỏi. Nghĩa là phần đầu và vai luôn bị gập cúi xuống thấp hơn phần mông. O kể ngày trẻ lao động nặng nhiều quá, nhất là bị địch bắt giam tù, đánh đập, tra tấn dã man nên lưng bị còng lại, không thể thẳng lên được.

Đòn bánh o cho to bằng bắp chân con trẻ, lạt buộc chi chít. Rồi o kể, hồi đêm gói nấu được 4 đòn bánh, để lại nhà 2 đòn, 2 đòn còn lại cho 2 cụ (cụ còn lại anh của ba tôi). Tôi không thể quên được mùi, vị lát bánh tét dẻo dai không có nhân được mạ dùng lạt buộc bánh cắt ra, chia đều cho các con thưởng thức sau khi cúng ông bà.

Tôi mắt tròn mắt dẹt nghe o kể chuyện trồng cây nếp. Tháng 10/1973, o từ Tân Kỳ của tỉnh Nghệ An trở về quê Gio Linh, tỉnh Quảng Trị sau nhiều năm đi sơ tán. Trong hành trang của o có mang theo mấy lon hạt nếp giống. O chăm chỉ khai hoang ruộng xứ Bàu của làng Gia Bình, trồng nếp mỗi năm 2 vụ để có nấu xôi mỗi lần kị giỗ ông bà và gói bánh tét khi Tết đến.

Các thế hệ trong gia đình gói bánh Tết - Ảnh: L.Q.H
Các thế hệ trong gia đình gói bánh Tết - Ảnh: L.Q.H

Ngày đó để có gạo nếp nấu xôi, nấu bánh là rất khó khăn, gạo nếp vô cùng quý giá. Được o bày vẽ cách nhân giống, mùa gieo cấy đến, tôi ra đồng đến từng ruộng mạ, xin bà con mỗi người một nắm cây mạ nếp non. Sau vài ngày cũng xin được vài chục nắm, đủ cấy góc ruộng rộng chừng một khẩu (gần 50m2) trong tấm ruộng lúa của gia đình. Cuối vụ thu hoạch, diện tích ruộng nếp nho nhỏ ấy cũng giúp tôi chuẩn bị được mấy chục lon gạo nếp cho ba mạ nấu xôi, nấu bánh tét.

Những Tết dần sau. Cứ vào đầu tháng Chạp là o bưng gạo nếp đến nhà cho ba mạ tôi để gói thêm vài đòn bánh tét cúng ông bà. O thương ba mạ tôi vì chiêu yếu, các con còn nhỏ. Ba tôi ngồi tập gói từng chiếc bánh chưng, bánh tét. Từ sáng đến trưa ba mới gói chỉ được vài đòn bánh tét và một chiếc bánh chưng. Rồi đến các Tết sau nữa, ba gói đã nhanh hơn, nhưng luôn tỉ mẩn để có được những chiếc bánh đẹp thờ cúng tổ tiên, ông bà. Có lẽ, những lúc ấy khó nhất với ba là làm sao để đặt miếng nhân đậu nằm chính xác, khi bánh chín, cắt ra, nhân luôn ở giữa lát bánh.

Tôi nhớ như in lời ba dạy, hạt nếp, hạt đậu, miếng thịt, sợi dây buộc bằng tre để làm nên chiếc bánh chưng, bánh tét đều là thành quả chắt chiu mà bao công khó làm ra. Cuộc sống luôn phải biết ơn những gì mình đang có. Bài học khai tâm từ nồi bánh chưng, bánh tét ấy lúc nào cũng luôn là hành trang quý báu cho chúng tôi trên mỗi bước đường xa quê.

Rồi tôi lớn lên đi học xa nhà. Về Tết, o lại để dành một đòn bánh tét cho tôi để khi trở lại Trường đại học Tổng hợp Huế, có thức quà quê mang theo mời bạn bè.

Đi làm, tháng lương đầu tiên tôi dành mua cho o một chiếc áo lụa. Thấy tôi từ ngoài cổng, vẫn dáng người dấu hỏi ấy, o mừng lắm kêu lên: “Thằng Cạng! Cháu về thăm o à!”. O cầm chiếc áo mới mân mê, rồi mở cái rương sắt được làm bằng thùng đạn, cất kỹ chiếc áo đợi đến Tết mới mặc đi thăm bà con. Mỗi lần về quê, tôi thường ghé qua thăm. O thều thào, chỉ vào 4 đứa chắt ngoại: “Mai mốt cháu có việc làm ổn định rồi lo cho o một đứa nghe!”. Tôi hoàn thành nhiệm vụ o giao một cách đầy trách nhiệm.

Một cái Tết cổ truyền nữa lại về trong không gian xuân mà nhà nào cũng cố gắng gói nấu bánh chưng, bánh tét. Nồi bánh lửa đỏ bập bùng, reo vui giữa đất trời giao hòa. Để có được mùa xuân căng mẩy như hôm nay, hạt gạo, cây nếp thảo thơm đã biết bao lần vươn mình dẻo dai giữa đồng quê để chắt chiu hương đất, hương trời mà đứng thẳng dậy.

Lâm Quang Huy

tin liên quan