icon facebook Facebook icon phone Liên hệ
icon category Chuyên mục

Hương của đất, của cây và tình người

  • 06:25, 30/10/2026
  • icon facebook
  • icon youtube
  • icon titok

QTO - Có lẽ những câu thơ của nhà báo Huỳnh Dũng Nhân đủ sức nặng kéo tôi thêm một lần trở lại với vùng đất đỏ bazan phía Tây Quảng Trị: “Đêm Khe Sanh ký ức còn khói lửa/Mỗi sáng mai đã thơm phức cà phê... Khe Sanh ơi tôi xin hứa sẽ về!”. Lặng lẽ, dấu chân tôi rải đều dưới rừng cà phê bạt ngàn. Rồi chọn cho mình một góc quán nhỏ bên đỉnh núi mây vờn, ngồi thưởng thức từng giọt đắng cà phê Khe Sanh chất chứa hương vị của đất, của cây, của tình người lắng đọng ngót trăm năm.

Trăm năm tình cây và đất

Trước khi “ngược đường, ngược nắng” lên Khe Sanh, thủ phủ huyện Hướng Hóa trước đây, nơi được ví như một “tiểu Đà Lạt” giữa lòng Quảng Trị đầy nắng gió, tôi có dịp ngồi trò chuyện với tiến sĩ sử học Nguyễn Khắc Thái. Ông bảo rằng: “Thực ra, nếu lấy Khe Sanh làm tâm điểm về câu chuyện trăm năm cây cà phê bám chắc ở vùng đất đỏ bazan phía Tây Quảng Trị thì sâu hơn về phía Hướng Phùng mới được xem là thủ phủ cà phê, khi cây cà phê trồng ở đây chiếm đến 2/3 diện tích toàn tỉnh”.

Một gốc cây cà phê Mít đầu dòng tại vườn của anh Phan Đình Thông - Ảnh: T.L
Một gốc cây cà phê Mít đầu dòng tại vườn của anh Phan Đình Thông - Ảnh: T.L

Anh Hà Ngọc Dương, Trưởng phòng Kinh tế, UBND xã Hướng Phùng, xác tín nhận định của tiến sĩ Nguyễn Khắc Thái: “Có những thời điểm diện tích cà phê Hướng Phùng lên đến 4.000ha, đó là những lúc cà phê được mùa, được giá. 100 năm trôi qua, cây cà phê lúc thăng, lúc trầm cùng thời cuộc, nhờ hương đất mặn mòi, nhờ tình người sâu lắng mà bám rễ sâu giữa bạt ngàn Trường Sơn. Hiện tại, xã Hướng Phùng có trên 2.500ha với 2 giống chủ lực, cà phê Chè (Arabica) và cà phê Mít (Liberica)”.

Những ngày lang thang dưới tán rừng cà phê Hướng Phùng, tôi cảm nhận hai điều rất “vi diệu”. Thứ nhất, điều giúp cây cà phê gắn chặt và có sức sống trường tồn tròn thế kỷ là công sức, mồ hôi của nhiều thế hệ đồng bào dân tộc thiểu số Bru-Vân Kiều, Pa Kô, những người xem cây cà phê như người bạn đồng hành vượt qua bao buồn, vui, sướng, khổ. Thứ hai, trong bối cảnh giống cà phê Chè lên ngôi mạnh mẽ thì cây cà phê Mít lặng lẽ “xác lập” cho mình một vị trí quan trọng trong tập quán canh tác của người dân và trong cách thưởng thức hương vị “riêng có” thương hiệu cà phê Khe Sanh của khách hàng sành điệu.

Tại bản Cheng, xã Hướng Phùng, tôi lạc vào một khu vườn cà phê Mít cổ thụ, những gốc cà phê xù xì xám mốc vươn lên, tỏa tán san sát nhau, ken dày cả một khoảng không gian bao la. Nhằm lúc vào mùa thu hoạch, từng quả cà phê chín mọng, lúng liếng giấu mình sau cánh lá. Chủ nhân vườn cà phê là Hồ Văn Sáu, người Bru-Vân Kiều thế hệ “8X”.

Để hái cà phê, Hồ Văn Sáu phải dùng thang trèo lên. Bởi thế, tôi phải mất chút thời gian, tôi mới tìm thấy Hồ Văn Sáu trên ngọn một gốc cà phê Mít nằm sâu giữa vườn.

Hồ Văn Sáu bảo: “Chẳng nhớ tuổi đời những gốc cà phê Mít trong vườn. Chắc chắn là gấp nhiều lần tuổi mình vì được trồng từ đời ông, sang đời bố, rồi giờ đến đời mình sở hữu. Nghe kể, trước đây cà phê Mít được trồng chỉ với một nhiệm vụ làm vành đai chắn gió cho người anh em cà phê Chè. Bây giờ cà phê Mít được mùa, được giá nên mình cố gắng bảo tồn khoảng 300 gốc; năm 2025 trồng thêm 500 gốc, cộng với 2ha cà phê Chè. Mỗi năm thu nhập hơn 300 triệu đồng”.

Giống như Hồ Văn Sáu, Hồ Hữu Cần, một “triệu phú” người Bru-Vân Kiều ở bản Doa Cũ, cũng đang chăm sóc, bảo tồn hơn 1.000 gốc cà phê Mít có tuổi đời trên 35 năm. Đồng bào Bru-Vân Kiều ở xã Hướng Phùng cho tôi biết điểm khác biệt lớn nhất giữa cà phê Mít với cà phê Chè là chu kỳ sinh trưởng dài hơn. Từ khi hoa nở đến lúc thu hoạch mất khoảng 12 tháng. Chính “độ trễ” tự nhiên của cây cà phê Mít cùng bộ rễ cổ thụ bám sâu vào lòng đất đỏ bazan giúp cây cà phê Mít chắt lọc tinh túy của đất để tạo ra thứ hương vị độc đáo, đậm đà. Thưởng thức ly cà phê Mít, người uống có thể cảm nhận chút vị chua thanh thoát... sau cùng là vị ngọt hậu sâu lắng chảy vào lòng người, quyến luyến khó quên.

Tình người lắng đọng

Tháng 3/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị quyết định công nhận 69 cây cà phê Mít (gồm 47 cây cà phê Mít giống đỏ mận và 22 cây cà phê Mít giống tím) là cây đầu dòng. Bà Nguyễn Hồng Phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường chia sẻ rằng, việc công nhận cây cà phê Mít đầu dòng là kết quả của một quá trình nghiên cứu, theo dõi lâu dài đối với những cây có tuổi đời cao, sinh trưởng khỏe, tán cân đối, năng suất ổn định, chất lượng quả đồng đều và không bị nhiễm sâu bệnh. Mục tiêu bền vững là bảo tồn nguồn gen quý, từ đó nhân giống, từng bước hình thành vùng nguyên liệu cà phê Mít ổn định, chất lượng cao.

Những ngày ở xứ sở “tiểu Đà Lạt” Quảng Trị, tôi tìm về vườn cà phê của anh Phan Đình Thông tại thôn Bụt Việt, xã Hướng Phùng, 1 trong 2 hộ gia đình đang bảo tồn cây cà phê Mít đầu dòng. Một ngọn đồi cao chót vót, cà phê mênh mông trải đều từ chân đến đỉnh đồi với diện tích 5ha, trong đó có 1ha cà phê Mít. Như thế tính ra, cứ 1 gốc cà phê Mít sẽ cùng song hành với 4 gốc cà phê Chè mà lớn lên. Phan Đình Thông tạm tính, mỗi vụ cà phê, gia đình anh thu về từ 50-60 tấn quả. Riêng quả cà phê Mít đạt tiêu chuẩn sạch, giá bán gấp 3 lần quả cà phê Chè...

“Như rứa, tiềm năng cà phê Mít đang rộng mở. Việc bảo tồn nguồn gen, tạo giống thuần chủng từ những gốc cà phê Mít đầu dòng sẽ giúp nhân rộng diện tích cà phê Mít toàn xã Hướng Phùng lên khoảng 500ha là mục tiêu chắc chắn đạt được trong tương lai gần”, anh Thông khẳng định.

Bạt ngàn cây cà phê ở xã Hướng Phùng- Ảnh: T.L
Bạt ngàn cây cà phê ở xã Hướng Phùng - Ảnh: T.L

Xuôi theo đường Hồ Chí Minh nhánh Tây về phía Bắc, tôi gặp đồng bào Bru-Vân Kiều đi rẫy về, hỏi đường đến bản Xa Ry, những ánh mắt phụ nữ trong veo nhìn tôi hồn hậu, tiếng cười rộn cả một góc miền sơn cước. “Vì sao gọi tên bản là Xa Ry?”, tôi hỏi. Một bà mế Vân Kiều bảo: “Thì đường đến bản xa, rất xa. Đi mãi không tới nên đồng bào nói với nhau... răng mà xa ri? Tên bản bắt đầu từ đó”.

Ở Xa Ry, tôi dừng chân tại một quán cà phê nằm lưng chừng đồi, sát đường Hồ Chí Minh nhánh Tây-Pun Coffee. Chủ quán là đôi vợ chồng Phạm Hồng Phong, Lương Thị Ngọc Trâm. Giữa núi rừng Trường Sơn, giữa bạt ngàn sắc xanh cà phê, trong không gian Pun Coffee thoáng đãng, chủ-khách dường như xích lại gần nhau hơn khi cùng say sưa với câu chuyện về cà phê Khe Sanh, cà phê Hướng Phùng.

Phạm Hồng Phong tỉ mẩn chọn từng hạt cà phê Mít, nhẹ nhàng cho vào rang, xay, pha, chế. Nhìn cái cách anh nâng niu chút bột cà phê thơm dìu dịu ủ vào ấm, chế nước rồi chiết thành ly cà phê vàng sóng sánh dành cho khách, sẽ thẩm thấu thứ triết lý cà phê ấm tình người chất chứa trong đó.

Với Lương Thị Ngọc Trâm, câu chuyện về cây cà phê sẽ đốt cháy cả thời gian. Tôi ngồi nghe chị kể say sưa, từ lúc mặt trời đứng ngọn sào đến khi chuyển dần về phía Tây, khuất sau ngọn núi mà vẫn chưa hết chuyện. Chị Trâm bảo, cây cà phê ở núi rừng Hướng Hóa xưa, trải qua bao thăng trầm ngót trăm năm, từng lăn lộn, quần quật với con người, vượt qua những tháng ngày cỗi cằn, khốn khó mới vươn hình hài lớn dậy được như ngày hôm nay. Vì thế, cây cà phê đã dâng cho đời một sản phẩm cà phê chất lượng, tròn vị, mang đặc trưng “riêng có” của xứ sở “tiểu Đà Lạt” Quảng Trị.

Thì rứa nhé, “Khe Sanh ơi, tôi xin hứa sẽ về!”.

Ngô Thanh Long

tin liên quan

Hồi sinh cà phê Khe Sanh
Hồi sinh cà phê Khe Sanh
QTO - Trong 100 năm qua, cà phê Khe Sanh có nhiều câu chuyện về cây trồng, giá cả, thu nhập và những thăng trầm mà chỉ những người trong cuộc nếm trải mới thấu cảm hết. Quan trọng nhất là sau bao nhiêu thử thách, nhiều người bằng bàn tay, khối óc và niềm đam mê cà phê đã tạo dựng được cơ nghiệp và mở ra hướng đi mới .
Cà phê Khe Sanh hương vị… 'kẻ biển'
Cà phê Khe Sanh hương vị… 'kẻ biển'
QTO - Đúng dịp tỉnh Quảng Trị tổ chức chuỗi hoạt động "Theo dấu chân 100 năm cà phê Khe Sanh (1926-2026)", chúng tôi ngược dãy Trường Sơn lên xã vùng cao Khe Sanh để tìm gặp những nông dân gốc gác từ những ngư dân vùng biển bãi ngang Ngư Thủy Nam (nay thuộc xã Sen Ngư) lên Khe Sanh lập nghiệp.
Về xứ 'ngũ Càng' mùa lũ
Về xứ 'ngũ Càng' mùa lũ
QTO - Nói đến vùng đất phía Bắc nơi cuối dòng Ô Lâu thuộc địa bàn xã Nam Hải Lăng, là nói đến cảnh sắc và con người mang nét đặc thù riêng của một miền quê sông nước. Trong đó, những xóm nhỏ ẩn mình sau lũy tre xanh giữa đồng bãi bao la được gọi là “Càng” luôn có sức cuốn hút đến kỳ lạ.