Phía sau những con sóng-Kỳ 1: Tiếng vọng từ… biển

  • 15:25, 25/04/2026
  • icon facebook
  • icon youtube
  • icon titok

QTO - Phía sau những con sóng ấy, giờ đây không còn là câu chuyện về những chuyến biển, về cá tôm của người đi biển. Đó là hành trình “ngược sóng” nhọc nhằn không phải để kiếm tìm luồng cá, mà để tìm kiếm kế mưu sinh. Làm sao để những “lối rẽ” trên cát bớt chông chênh, gập ghềnh? Đó không còn là chuyện riêng của những người con làng biển.

Một bộ phận ngư dân sẽ không còn bám biển để mưu sinh như là nghề truyền thống suốt hàng trăm năm của cha ông họ nữa. Rồi đây, những con người từng xem thuyền là nhà, biển cả là nguồn sống này sẽ phải tìm cho mình một “lối rẽ” khác. Thế nhưng, không phải ai cũng dễ dàng có đủ điều kiện để theo đuổi hướng đi mới và thích ứng với cuộc sống mới, khi không còn bám biển.

Nhiều ngư dân chật vật bám biển - Ảnh: C.H
Nhiều ngư dân chật vật bám biển - Ảnh: C.H

Nghề biển không còn hấp dẫn

Chưa bao giờ, câu chuyện chuyển đổi nghề cho ngư dân lại đặt ra khẩn thiết như lúc này. Và sự đổi thay này cũng chưa bao giờ là chuyện dễ. Nhưng, cuộc sống vẫn phải tiếp tục và ai cũng cần có một nghề, một công việc mới để mưu sinh. Từ lâu, khu vực vỉa hè dưới chân cầu Nhật Lệ 2 (phường Đồng Hới) trở thành nơi mưu sinh của một số gia đình ngư dân trẻ, trong đó có vợ chồng anh Trương Văn Triều (SN 1995), ở tổ dân phố Sa Động, phường Đồng Hới.

Cứ khoảng 16 giờ hàng ngày, vợ chồng Triều lại cọc cạch đưa một xe hàng nhỏ từ nhà đến đây để bán hàng (gần 3km). Vài chiếc bàn ghế, cùng nồi niêu, soong chảo đượcbày ra và… đợi khách đến. Suốt gần 3 năm nay, quán hàng nhỏ nơi đây trở thành chốn mưu sinh của gia đình Triều.

Sinh ra và lớn lên trong gia đình ngư dân, học xong tiểu học, từ năm 12 tuổi, Triều đã theo cha đi biển. Trước đây, nhà Triều cũng có tàu cá, nhưng sau đó phải bán vì cha tuổi đã cao, một mình Triều không thể “kham nổi”. Thời gian đầu, nghỉ biển, vì không có bằng cấp, không có nghề nghiệp, vốn liếng, Triều không biết làm gì và cũng không biết nên bắt đầu từ đâu.

Nghĩ hết cách, vợ chồng anh mới ra đây mở quán bán đồ ăn vặt và quán nhậu. Phải mất hơn 1 năm, quán của Triều mới được khách hàng tin tưởng và lựa chọn, nhưng cũng chỉ bày bán được vào mùa nắng, còn mùa mưa thì phải nghỉ. Vì vậy, Triều vẫn phải theo bạn đi biển khi cần.

“Trước mắt, cứ phải làm tạm bợ như thế này để có “đồng ra, đồng vào”, chứ nếu muốn buôn bán ổn định phải có mặt bằng. Mà cho dù có người cho thuê mặt bằng đi nữa, chúng em cũng không có đủ tiền để thuê. Em dự định sau này ổn định, có chút vốn liếng sẽ học bằng lái xe ô tô để chạy dịch vụ”. Nhưng, đó mới chỉ là dự định, còn về lâu dài, Triều chưa dám khẳng định chắc chắn điều gì.

 Chuyển đổi nghề cho ngư dân là một “bài toán” đầy thách thức và khó khăn - Ảnh: C.H
Chuyển đổi nghề cho ngư dân là một “bài toán” đầy thách thức và khó khăn - Ảnh: C.H

Đồng Hới là một trong những địa phương có nhiều tàu thuyền khai thác thủy sản của tỉnh Quảng Trị, trong đó, tổ dân phố Mỹ Cảnh có số lượng tàu thuyền đánh cá nhiều nhất trên địa bàn, với hơn 250 chiếc. Chi hội trưởng Hội Nông dân tổ dân phố Mỹ Cảnh Phạm Đém cho hay, nghề biển không còn sức hấp dẫn như trước nữa.

Phần lớn thanh niên, lao động nghề biển giờ đây đều chuyển sang xuất khẩu lao động (XKLĐ), chỉ còn những người trung niên và người lớn tuổi bám biển. Từ năm 2020 đến nay, trung bình mỗi năm, số lượng tàu thuyền khai thác thủy sản ở Mỹ Cảnh giảm khoảng 4 chiếc. Sản lượng thủy, hải sản đánh bắt được theo đó cũng sụt giảm gần 500 tấn/năm.

Xuất khẩu lao động là “cứu cánh”

Câu chuyện chuyển đổi nghề như thế nào và ngư dân làm gì sau khi rời biển lên bờ, không phải là nỗi trăn trở của riêng làng biển nào. Thôn Đông Đức, xã Đông Trạch có 22 tàu đánh bắt xa bờ và 17 thuyền hoạt động vùng ven bờ. Trong số 22 tàu đánh bắt xa bờ có 5 tàu “nằm bờ” suốt nhiều năm qua, vì thu không đủ bù chi và trả những khoản tiền nợ vay đóng tàu cho ngân hàng. Không còn cách nào khác, nhiều chủ tàu buộc phải XKLĐ để kiếm tiền trả nợ.

Suốt hơn 10 năm qua, XKLĐ không chỉ là “cứu cánh” duy nhất của những “con nợ” vì biển cả này, mà còn là lựa chọn của những người trẻ, thế hệ vốn được xem là “truyền nhân” của nghề biển. Trung bình mỗi năm, thôn Đông Đức có từ 20-30 người XKLĐ.

Là người con của làng biển và từng có gần 15 năm làm Chủ tịch Hội Nông dân xã biển Đức Trạch cũ, nay là xã Đông Trạch, Bí thư Chi bộ kiêm Trưởng thôn Đông Đức Trương Công Hoạt hiểu rất rõ những khó khăn, thách thức của nghề biển.

Ông Hoạt cho biết, với người dân trên địa bàn thôn Đông Đức nói riêng và ngư dân các làng biển của xã Đông Trạch nói chung, nếu không bám biển, họ sẽ đi XKLĐ chứ không còn con đường nào khác. XKLĐ trở thành phong trào, vì đây là con đường mang lại cho họ nguồn thu nhập ổn định.

Nghề biển giờ đã không còn hấp dẫn như trước - Ảnh: C.H
Nghề biển giờ đã không còn hấp dẫn như trước - Ảnh: C.H

Theo ông Hoạt, một nguyên nhân quan trọng không kém nữa, khiến ngư dân khó tìm kiếm sinh kế tại chỗ là do nền tảng trình độ, nhận thức hạn chế. “Bởi từ xưa, nghề biển là nghề “cha truyền con nối”. Nếu một người sinh ra ở làng biển, thì việc gắn bó với nghề biển là định mệnh, chứ không phải là sự lựa chọn. Vì vậy, người làng biển thường ít chú trọng đến việc học hành. Còn bây giờ, muốn làm gì cũng phải có kiến thức, kinh nghiệm, chứ không thể “tay không bắt giặc”, ông Hoạt trăn trở.

Phó Chủ tịch UBND xã Đông Trạch Lưu Đức Ngọc cho hay, thiếu kiến thức, kinh nghiệm chính là “rào cản” phổ biến của ngư dân trên địa bàn xã. Từ trước đến nay, họ chỉ biết có nghề khai thác thủy sản, chứ không làm bất cứ ngành nghề gì khác. Vì vậy, với rất nhiều địa phương vùng biển, chuyển đổi nghề cho ngư dân là một “bài toán” đầy thách thức và khó khăn”.

Dương Công Hợp

>>> Kỳ 2: Không phải “lối rẽ” trên cát nào cũng bằng phẳng

tin liên quan

Sản xuất công nghiệp quý I vượt kịch bản tăng trưởng đề ra
Sản xuất công nghiệp quý I vượt kịch bản tăng trưởng đề ra
QTO - Với việc triển khai đồng bộ, linh hoạt các giải pháp điều hành cùng sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, trong quý I/2026, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì mức tăng trưởng khá, tăng cao hơn mức tăng trưởng cùng kỳ và vượt kịch bản tăng trưởng đề ra.
Liên kết sản xuất, nâng cao giá trị cây chuối
Liên kết sản xuất, nâng cao giá trị cây chuối
QTO - Với tổng diện tích khoảng hơn 3.500ha chuối, các xã Lao Bảo, Tân Lập, Lìa, A Dơi được xem là “thủ phủ” cây chuối mật mốc của miền Trung. Nhiều năm qua, đây là cây trồng chủ lực giúp các hộ dân ở vùng biên giới phía Nam của tỉnh thoát nghèo, vươn lên làm giàu, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số Vân Kiều, Pa Kô.
Đồng hành với người dân vùng biên
Đồng hành với người dân vùng biên
QTO - Trong những năm qua, nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ chương trình cho vay theo Quyết định số 31/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng chính sách đối với gia đình sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn đã trở thành điểm tựa vững chắc, tiếp thêm sức mạnh để những đôi bàn tay cần cù viết nên câu chuyện làm giàu trên chính mảnh đất quê hương.