QTO - Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vắt qua địa bàn xã Hướng Lập là tuyến đường 20/7 nối với đường số 10 để bộ đội ta từ miền Bắc vận chuyển hàng hóa, vũ khí và hành quân vào chiến trường miền Nam. Con đường ngày ấy ghập ghềnh đá núi được xây dựng bằng máu xương, đã nâng đỡ hàng vạn bước chân người lính trên những nẻo đường ra trận.
Sau chiến dịch Mậu Thân 1968, quân đội Mỹ không còn rải bom ồ ạt trên toàn tuyến đường Hồ Chí Minh như trước, thay vào đó, chúng tập trung đánh phá ác liệt những khu vực trọng điểm, những tuyến độc đạo và những “nút thắt cổ chai” như đường 20/7, Cổng Trời, đèo Mụ Giạ, ngầm Ta Lê, đèo Phu La Nhích…
Sau hơn nửa thế kỷ vắng bóng người qua lại, nhiều đoạn trên tuyến đường 20/7 đã bị sạt lở, nhiều đoạn vẫn còn khá nguyên vẹn, đang dần bị cây rừng phủ bóng thời gian; nhưng con đường ấy vẫn miên man rộng dài trong nỗi nhớ của đồng bào Vân Kiều ở Cù Bai, Tà Păng, Sê Pu, A Xóc...
Đứng bên dòng Sê Băng Hiêng, phía đối diện là địa đạo Cà Tam và cánh đồng Cù Bai sau mùa gặt, lác đác vài thửa ruộng gieo sớm nên mầm lúa đã bắt đầu lên xanh, bà Hồ Thị Han năm nay gần 80 tuổi, bồi hồi nhớ lại: “Vào khoảng thời gian từ năm 1967 đến cuối năm 1972, mỗi đêm có hàng trăm người lính hành quân qua sông Sê Băng Hiêng và địa đạo Cà Tam, nhiều khi đoàn người kéo dài cả cây số, thi thoảng có người nhắc nhở: Giữ cự ly, bám sát đội hình, bám sát, bám sát...”.
![]() |
| Tác giả (đứng giữa) cùng cán bộ, nhân viên Đội Quy tập hài cốt liệt sĩ Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 337 và anh Trần Ngọc Thắng (thứ ba, từ phải sang), con trai liệt sĩ Trần Vượng trên đường 20/7 - Ảnh: P.T.L |
Nhìn theo hướng chỉ tay của bà Han, về phía Nam là đường Chạc Nòi đi bản Trăng-Tà Puồng, xa hơn về phía Bắc là “Cổng Trời”… Bà kể: “Hồi ấy, phụ nữ chúng tôi phải đưa trẻ con vào sâu trong núi để tránh bom, đàn ông thì vẫn ở lại để vận chuyển thương binh từ Cù Bai theo đường 20/7 đi qua Cổng Trời. Ban ngày, sau mỗi đợt máy bay Mỹ ném bom, thường có nhiều người bị thương và hy sinh. Chúng tôi sống được là nhờ bộ đội chia sẻ gạo, muối và thực phẩm…”.
Giọng bà Han như chùng xuống, gió vẫn không ngừng thổi qua thung lũng Cù Bai, tưởng như có tiếng ai thì thầm tha thiết: “Dân bản mong lắm, hòa bình rồi nhưng sao các anh, các chị vẫn chưa trở về!”.
Và rồi cũng có người đã trở lại, đó là cựu chiến binh Đỗ Hữu Đàm, quê gốc ở Yên Bái, một người lính thuộc Phân trạm đường sông 161, Binh trạm 27, Đoàn 559. Thăm lại nơi yên nghỉ của 18 đồng đội trên cánh đồng Cù Bai, ông Đàm khe khẽ đọc mấy câu thơ mà có lẽ nhiều người lính trẻ ngày ấy vẫn ngâm nga vào những đêm trăng dưới tán cây rừng giữa đại ngàn: “Em ơi cứ lấy chồng đi/Anh đi Thà Khống có đi không về/Qua dốc Dinh biết mình còn sống/Qua Thà Khống anh sống ngàn năm…”.
Đứng bên miệng hố bom, ông Đàm hướng mắt ngược về phía thượng nguồn Sê Băng Hiêng trên đất Việt. Những khóm lau trắng chấp chới bên sông như cùng ông chắp nối ký ức về những cung đường ra trận, những trận B52 rền trời như sấm tháng 3. Dưới bầu trời đầu thu, những đỉnh núi xa mờ, những dòng suối rì rào và những lối mòn xuyên qua đỉnh núi, vượt qua trăm suối ngàn khe hình như cứ hun hút trong ký ức người lính một thuở “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”.
Ngược dòng Sê Băng Hiêng, chúng tôi tìm về bản Xa Nông, nơi từng có trạm giao liên là điểm dừng chân của những chàng trai, cô gái thanh niên xung phong trên đường tiếp lương tải đạn. Dấu vết ngày xưa chẳng còn gì, nhưng hình như tiếng cười trong trẻo, hồn nhiên của họ còn vương trên mặt nước sông và trên những nhánh hoa rừng. Người Vân Kiều ở Hướng Lập vẫn nhớ mãi hình ảnh những cô gái mười tám, đôi mươi với mái tóc dài, dáng người thanh mảnh mà kiên cường trong lửa đạn.
“Hồi ấy, các cô gái gùi súng đạn, lương thực đi từ Vĩnh Ô lên Hướng Lập, khi đến bản Xa Nông thì nghỉ lại ở trạm giao liên, hôm sau họ lại tiếp tục ngược dòng suối Xa Nông đi về phía Bắc rồi vòng lên đường 20/7. Buổi chiều, các cô thường ra lấy nước và tắm trên dòng Sê Băng Hiêng. Mặc dù trong bom đạn, có thể hy sinh bất cứ lúc nào nhưng ai cũng vui vẻ, yêu đời và ca hát…”, ông Hồ Văn Duẩn, một người lính của Huyện đội Hướng Hóa năm xưa, nhớ lại.
Bản Xa Nông ngày xưa ấy đất đai màu mỡ, những bãi bồi ven sông trù phú, cây trái quanh năm, nhờ vậy, người dân sống gần như tự cung tự cấp. Năm tháng qua đi, những chàng trai, cô gái Trường Sơn của một thời đánh Mỹ không biết ai còn ai mất, nhưng Sê Băng Hiêng thì vẫn vậy, vẫn vẹn nguyên một đời sông mong ngóng đợi chờ.
Thao thức cùng những cung đường Trường Sơn chạy qua vùng đất Hướng Lập, chúng tôi lại có dịp đồng hành với những người lính của Đoàn Kinh tế-Quốc phòng 337 đi tìm đồng đội. Chuyến đi nhằm xác định nơi mai táng ban đầu của 6 liệt sĩ tại nghĩa trang Phân trạm 164, Binh trạm 32 ở khu vực đầu nguồn suối Cù Bai và “Cổng Trời”, trong đó có liệt sĩ Trần Vượng, cấp bậc đại úy, trợ lý tác chiến của Phòng Tham mưu, Bộ Tư lệnh Công binh, hy sinh ngày 21/3/1969.
Từ bản Tà Păng, chúng tôi ngược theo dòng suối Cù Bai để tìm kiếm theo chỉ dẫn và trích lục hồ sơ liệt sĩ. Tuyến đường 20/7 chạy ven theo dòng suối cũng chính là một phần đường phân giới giữa hai nước Việt Nam-Lào anh em. Với chúng tôi, đây là chuyến đi lần đầu, còn anh Trần Ngọc Thắng, con trai út của liệt sĩ Trần Vượng, thì đây là lần thứ 3.
Nhìn từ trên cao, khu vực đầu nguồn suối Cù Bai, một chi lưu của sông Sê Băng Hiêng, vẫn thấy rõ hình hài những tuyến đường dành cho xe cơ giới ở bình độ từ 800m đến gần 1.000m so với mực nước biển. Nhưng dấu vết của những cung đường thồ, đường gùi cõng thì mờ nhạt và đứt gãy do địa hình thay đổi qua thời gian và do rừng tái sinh sau chiến tranh. Tuyến đường cáp để thả hàng từ đỉnh núi xuống lòng suối Cù Bai hoàn toàn không còn dấu vết. Vậy nên, việc khoanh vùng, xác định vị trí mai táng 6 liệt sĩ vô cùng khó khăn.
Sau một ngày đường, anh Thắng vừa thắp hương, vừa hờn dỗi: “Nếu không gặp được bố, con cũng không cần bố nữa đâu…”. Hôm ấy, chúng tôi lót lá chuối rừng nghỉ qua đêm ngay trên nền đường 20/7. Câu chuyện của anh Thắng kể về tuổi thơ, về những chuyến đi tìm, về niềm hy vọng cứ rỉ rả tưởng như tiếng nước suối Cù Bai chảy hoài không dứt. Anh Thắng được 3 tháng tuổi thì bố anh có ghé về thăm một lần rồi vội vã vào chiến trường.
Năm 1973, sau khi ký Hiệp định Paris, từ Hà Nội, mẹ của anh xin đi nhờ xe nhiều chặng, lặn lội tìm vào Phân trạm 164 để thăm mộ chồng. Khu mộ lúc bấy giờ có một hố bom lớn bên cạnh, mặt đất vẫn còn những quả bom chưa nổ. Sợ nguy hiểm nên mẹ anh không cho người cất bốc, bà nghĩ sau này cơ quan chức năng sẽ quy tập nên tạm yên tâm để quay về với các con… Hình như anh Thắng còn nói thêm điều gì đó, nhưng gió đại ngàn cứ cuốn đi trên những triền núi phủ kín hoa cỏ tranh và lau trắng, chỉ còn tiếng cây rừng xào xạc, bất chợt là tiếng chim rừng thảng thốt vì hình như lạc mất nhau…
Hôm sau, chúng tôi vẫn lần theo đường 20/7 về phía Bắc. Cây rừng đã kịp vươn cao sừng sững, đường kính cả người ôm giữa lòng đường. Chúng tôi ngược đỉnh núi leo lên đến cột mốc 580, nơi đây vẫn còn hầm hào, công sự cùng những mảnh bao đựng gạo bằng nilon và dấu vết của đường dây thông tin… Nhưng việc xác định đường thồ vẫn khó khăn vì nhiều đoạn bị đứt gãy, mất dấu do sạt lở núi. Hết gần trọn ngày thứ 2, chúng tôi quyết định quay về và xin hẹn những chuyến đi tiếp theo…
Đại ngàn vào thu, những áng mây trắng cứ bồng bềnh theo gió. Chợt nghĩ, với những người lính Trường Sơn năm xưa và đồng bào Vân Kiều ở Hướng Lập, những nẻo đường ra trận sẽ mãi là ký ức của những năm tháng bi hùng mà kiêu hãnh!
Không biết bây giờ, những người lính, những chàng trai, cô gái thanh niên xung phong từng ngược xuôi trên những cung đường núi hiểm trở, từng đi qua những bản làng như Cù Bai, Sê Pu, Tà Păng, A Xóc, Xa Nông có vời vợi nỗi nhớ về tuyến đường suối Cù Bai, sông Sê Băng Hiêng và đường 20/7? Chợt nghe như lời của gió núi rì rào nhắn gửi: Những người lính già, những người lính dẫu đã về với trời xanh mây trắng hay vẫn đang nằm lại đâu đó giữa đại ngàn, họ vẫn luôn hướng về đỉnh núi xa mờ phía hoàng hôn đổ bóng… vì lòng vẫn vời vợi nỗi nhớ những cung đường Trường Sơn huyền thoại!
Phan Tân Lâm









