QTO - Tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện nhất quán và nổi bật ở tinh thần yêu nước nồng nàn, khát khao độc lập, tự do cho dân tộc, mưu cầu hạnh phúc cho Nhân dân. Lý tưởng cao cả này xuyên suốt cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Chính vì vậy, Người đã tìm mọi cách ra đi tìm đường cứu nước, quyết đem lại độc lập, tự do cho Tổ quốc Việt Nam.
Sang Pháp, người thanh niên Nguyễn Ái Quốc đã hăng hái tham gia hoạt động cách mạng. Kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ nhất, các đế quốc thắng trận họp hội nghị Versailles (Pháp).
Ngày 18/6/1919, tranh thủ cơ hội này, Nguyễn Ái Quốc đã gửi tới hội nghị bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm: Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị; cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu, xóa bỏ hoàn toàn các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộ phận trung thực nhất trong Nhân dân An Nam; tự do báo chí và tự do ngôn luận; tự do lập hội và hội họp; tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương; tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả các tỉnh cho người bản xứ; thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật; đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tại Nghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của người bản xứ.
![]() |
| Cuốn sách “Bản án chế độ Thực dân Pháp” (Le Procès de la Colonisation Francaise) được lưu giữ tại Bảo tàng lịch sử quốc gia - Ảnh: T.L |
Đọc lại bản yêu sách này, chúng ta có thể thấy rõ nguyện vọng chính đáng về một thể chế bảo đảm các quyền dân chủ, dân sinh và những quyền tự do cơ bản. Từ “tự do” được nhấn mạnh nhiều lần với những yêu cầu cụ thể. Mặc dù bản yêu sách không được các nước đế quốc chấp nhận nhưng đã gây tiếng vang lớn, bởi nó khẳng định quyền tự quyết của các dân tộc là quyền thiêng liêng nhất, khai mở cho độc lập, tự do thực sự.
6 năm sau, vào năm 1925, Nguyễn Ái Quốc cho ra đời tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” bằng tiếng Pháp. Cuốn sách gồm 12 chương và phần phụ lục. Tác giả đã tố cáo hậu quả của việc xâm lược và cai trị của thực dân Pháp, tước đoạt những quyền con người cơ bản, đặc biệt là độc lập, tự do và dân chủ. Đây là một bản cáo trạng chân xác, hùng hồn được trình trước tòa án dư luận quốc tế. Với lập luận đanh thép, giọng văn sắc sảo, phong cách châm biếm, đả kích sâu cay, tác phẩm chính luận xuất sắc này đã chinh phục người đọc.
Chính bởi khát vọng mãnh liệt về độc lập, tự do, trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giam cầm, Hồ Chí Minh đã sáng tác tập thơ chữ Hán “Ngục trung nhật ký” (Nhật ký trong tù). Trong tập thơ có bài “Hạn chế” phản ánh sự phi lý của cảnh tù đày, qua một tình huống sinh hoạt rất đời thường nhưng trở thành nỗi khổ oái oăm của người tù mất tự do.
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, bản “Tuyên ngôn độc lập” là áng văn chính luận bất hủ khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Ngay mở đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn từ Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Từ đó, Người mở rộng phạm vi khái niệm: "Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Đây là bước phát triển sáng tạo, đưa quyền con người thành quyền dân tộc.
Năm 1946, trả lời các nhà báo, Người bày tỏ tâm nguyện tha thiết của mình: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập, tự do của dân tộc luôn gắn liền với dân chủ, hạnh phúc của Nhân dân. Người khẳng định chế độ mới là chế độ người dân làm chủ, vì dân và gần dân: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân... Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”. Người nhấn mạnh yêu cầu thực hành dân chủ một cách thực chất: “Dân chủ là để làm sao cho dân được mở miệng ra”.
![]() |
| Cầu Hiền Lương về đêm - Ảnh: H.H |
Trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, những giá trị về độc lập, tự do, hạnh phúc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi tiếp tục giữ vai trò nền tảng, định hướng cho sự phát triển bền vững của đất nước và đời sống Nhân dân. Kỷ nguyên mới đòi hỏi phải kiên định giữ vững nền độc lập gắn với tự chủ, tự lực, tự cường; bảo đảm tự do phải đi đôi với dân chủ, công bằng, ấm no, hạnh phúc, đồng thời phát huy tốt nhất năng lực sáng tạo của mỗi người và toàn xã hội. Có như vậy mới góp phần đẩy nhanh tiến trình phát triển đất nước, sớm đưa Việt Nam trở thành quốc gia thịnh vượng, hùng cường.
Xây dựng một Nhà nước dân chủ thực sự phải song song với việc hoàn thiện thể chế pháp quyền. Tự do phải được đặt trên nền tảng thượng tôn pháp luật, được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật nghiêm minh và nhân văn, lấy lợi ích chính đáng và hạnh phúc của Nhân dân làm thước đo cho các chính sách xã hội.
Thực hiện được điều đó chính là sự kế thừa và phát huy lý tưởng cao đẹp cùng tâm nguyện sâu xa của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời. Người từng khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Đó cũng là mục tiêu xuyên suốt mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đang kiên trì thực hiện nhằm xây dựng một xã hội no ấm, công bằng, dân chủ, văn minh, để Việt Nam thực sự trở thành mái ấm bền vững của mọi người dân Việt Nam, dù ở trong nước hay nước ngoài.
Di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về "Độc lập-Tự do-Hạnh phúc" mãi là kim chỉ nam soi đường cho dân tộc Việt Nam trên con đường phát triển bền vững.
Xuân Dũng










