QTO - Sáng 2/10, Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng tổ chức hội thảo tham vấn kết quả nhiệm vụ “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và khả năng lưu trữ các-bon của các thảm cỏ biển ở tỉnh Quảng Trị”. Đây là bước quan trọng để tỉnh nghiên cứu, chuẩn bị tham gia các cơ chế tài chính khí hậu và thị trường các-bon xanh.
![]() |
| Quang cảnh hội thảo - Ảnh: H.N |
Nhiệm vụ “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và khả năng lưu trữ các-bon của các thảm cỏ biển ở tỉnh Quảng Trị” được triển khai với mục tiêu đánh giá hiện trạng và khả năng lưu trữ các-bon của các thảm cỏ biển; đồng thời đề xuất các giải pháp quản lý, phục hồi, mở rộng quy mô, khai thác hiệu quả và bền vững. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ khu vực có cỏ biển của tỉnh, trong đó tập trung ở địa bàn Cửa Tùng, Cửa Việt và khu bảo tồn biển đảo Cồn Cỏ.
![]() |
| Đại biểu phát biểu thảo luận tại hội thảo - Ảnh: H.N |
Tại hội thảo, các chuyên gia, đại diện cơ quan chuyên môn đã tập trung đánh giá một cách có hệ thống hiện trạng các thảm cỏ biển, diện tích phân bố, đặc điểm sinh thái, mức độ suy thoái cũng như khả năng lưu trữ các-bon của các thảm cỏ biển ở Quảng Trị.
Giai đoạn 1997-2013, vùng biển Quảng Trị ghi nhận 2 loài cỏ biển chính là cỏ lươn nhật (Zostera japonica) và cỏ kim biển (Ruppia maritima), tập trung chủ yếu tại Cửa Tùng và Cửa Việt. Các thảm cỏ biển từng phát triển với quy mô khoảng 400ha.
![]() |
| Các đại biểu phát biểu thảo luận - Ảnh: H.N |
Kết quả khảo sát năm 2025 cho thấy, Cửa Tùng có cả 2 loài; Cửa Việt chỉ còn cỏ kim biển, phân bố thành các mảng nhỏ, rời rạc; tại Cồn Cỏ không ghi nhận cỏ biển hiện hữu trong đợt khảo sát. Tổng diện tích cỏ biển hiện trạng sử dụng trong tổng hợp, tính toán các-bon khoảng 1,5ha, cho thấy mức suy giảm trên 99% so với quy mô khoảng 350-400ha được tổng hợp trong các tài liệu trước đây. Quần xã cỏ biển đã bị thu hẹp và phân mảnh mạnh, độ phủ tại phần lớn khu vực khảo sát thấp.
Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần bổ sung cơ sở dữ liệu về tài nguyên, đa dạng sinh học biển mà còn cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ công tác quản lý tài nguyên, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu và từng bước khai thác tiềm năng các-bon xanh của tỉnh trong thời gian tới.
Hoài Nam











