QTO - Hơn 50 năm qua, Ủy ban Y tế Hà Lan-Việt Nam (MCNV) đã để lại dấu ấn trên mảnh đất Quảng Trị với nhiều dự án, hoạt động ý nghĩa. Nhân dịp khởi động dự án PRO-POOR trị giá 18 tỉ đồng, hỗ trợ phụ nữ dân tộc thiểu số (DTTS) tại xã Hướng Lập và Hướng Phùng, phóng viên (P.V) Báo và phát thanh, truyền hình Quảng Trị đã có cuộc phỏng vấn ông Phạm Dũng, Giám đốc MCNV.
Trao cơ hội cho phụ nữ
• P.V: Được biết, MCNV vừa khởi động dự án “Thúc đẩy sinh kế bền vững nhằm cải thiện an ninh lương thực cho phụ nữ nghèo DTTS ở tỉnh Quảng Trị” (dự án PRO-POOR). Vậy ông có thể thông tin rõ hơn về dự án này?
- Ông Phạm Dũng: Dự án PRO-POOR do MCNV tài trợ, phối hợp với Sở Ngoại vụ Quảng Trị triển khai trong 36 tháng tại xã Hướng Lập và Hướng Phùng. Dự án có tổng kinh phí 600.000 EUR, tương đương khoảng 18 tỉ đồng. Mục tiêu của dự án là cải thiện sinh kế, nâng cao thu nhập và tăng cường an ninh lương thực cho phụ nữ nghèo DTTS, qua đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng miền núi Quảng Trị.
![]() |
| Từ sự hỗ trợ của MCNV, phụ nữ xã Hướng Phùng được tập huấn, hướng dẫn trồng rừng - Ảnh: NVCC |
• P.V: Điều gì thôi thúc MCNV chọn phụ nữ DTTS làm “trung tâm” của dự án lần này, thưa ông?
- Ông Phạm Dũng: Phụ nữ DTTS là nhóm chịu nhiều tác động nhất từ nghèo khó, mất an ninh lương thực và biến đổi khí hậu. Trong khi đó, họ lại là lực lượng giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế gia đình, chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ em. Qua khảo sát tại xã Hướng Lập và Hướng Phùng, chúng tôi nhận thấy phụ nữ không chỉ là lao động chính mà còn gánh vác phần lớn công việc nội trợ, chăm sóc con cái, người thân.
Tuy nhiên, họ lại gặp nhiều rào cản trong tiếp cận nguồn vốn, kỹ thuật sản xuất, thông tin thị trường…, cũng như ít có cơ hội tham gia vào quá trình ra quyết định trong gia đình và cộng đồng.
MCNV tin rằng, đầu tư cho phụ nữ là một trong những giải pháp hiệu quả để góp phần giảm nghèo. Khi phụ nữ được trang bị kiến thức, kỹ năng, có cơ hội tiếp cận các mô hình sinh kế phù hợp và nâng cao thu nhập, họ sẽ chủ động hơn trong các quyết định kinh tế của gia đình, đồng thời đầu tư nhiều hơn cho dinh dưỡng, giáo dục và sức khỏe con em mình.
Những tác động tích cực này không chỉ dừng lại ở từng hộ gia đình mà còn lan tỏa đến cả cộng đồng. Vì vậy, dự án PRO-POOR không chỉ hướng tới hỗ trợ phụ nữ phát triển sinh kế, mà còn góp phần nâng cao vai trò, tiếng nói và năng lực của phụ nữ trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội địa phương.
Sự tiếp sức bền bỉ
• P.V: PRO-POOR không đứng độc lập mà là một mắt xích trong hành trình gần 60 năm đồng hành với Quảng Trị của MCNV. Nhìn lại chặng đường đã qua, ông có thể chia sẻ về những dấu ấn đậm nét mà MCNV mang lại?
- Ông Phạm Dũng: Đối với MCNV, dự án PRO-POOR không phải là một dự án đơn lẻ mà là sự tiếp nối của hành trình bền bỉ hơn 50 năm đồng hành với Quảng Trị. MCNV được một số bác sĩ người Hà Lan thành lập năm 1968 nhằm kêu gọi trợ giúp y tế cho người dân Việt Nam bị ảnh hưởng bởi chiến tranh. Từ năm 1974, MCNV bắt đầu hợp tác với Quảng Trị, đánh dấu bằng việc hỗ trợ tỉnh xây dựng một bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đầu tiên.
Từ năm 1990 đến nay, MCNV hợp tác với tỉnh nhiều hơn qua các chương trình, dự án khác nhau trong lĩnh vực y tế, giáo dục, hòa nhập xã hội phát triển cộng đồng. Chúng tôi hỗ trợ cộng đồng nói chung, nhưng ưu tiên hơn cho những nhóm chịu nhiều thiệt thòi, như: Người khuyết tật, người nghèo, đồng bào DTTS, phụ nữ và trẻ em.
Một trong những dấu ấn lớn nhất của MCNV là luôn đồng hành với địa phương để xây dựng năng lực. Chúng tôi chú trọng chuyển giao kiến thức, nâng cao năng lực cho cán bộ và cộng đồng, thúc đẩy sự tham gia của người dân trong toàn bộ quá trình lập kế hoạch, triển khai và giám sát các hoạt động phát triển. Nhờ đó, nhiều mô hình vẫn tiếp tục được duy trì và nhân rộng ngay cả khi dự án kết thúc.
Những năm gần đây, MCNV đã triển khai nhiều chương trình, dự án có ý nghĩa tại Quảng Trị, đơn cử như dự án PROSPER về thúc đẩy quản lý rừng bền vững và tăng cường quan hệ đối tác giữa chủ rừng, cộng đồng và doanh nghiệp.
Một dự án ý nghĩa khác có tên là “Hòa nhập”, do Chính phủ Hoa Kỳ tài trợ nhằm cải thiện chất lượng sống cho người khuyết tật bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam. Ngoài ra, chúng tôi còn có nhiều sáng kiến khác về phát triển sinh kế và nâng cao năng lực cho các cộng đồng DTTS.
• P.V: Ít ai biết, phần lớn nguồn vốn đồng hành với Quảng Trị suốt nhiều năm qua không đến từ các quỹ định hình sẵn, mà được chắt chiu từ chính sự đóng góp tự nguyện của nhân dân Hà Lan. Nguồn “năng lượng nhân văn” từ nhân dân Hà Lan gửi tới Nhân dân Quảng Trị mang thông điệp gì, thưa ông?
- Ông Phạm Dũng: Phần lớn nguồn lực giúp MCNV triển khai các hoạt động tại Việt Nam, trong đó có Quảng Trị đến từ sự vun đắp, đóng góp tự nguyện của hàng nghìn người dân Hà Lan. Đa số họ là những người đã từng gắn bó với MCNV từ những năm Việt Nam còn chịu ảnh hưởng bởi chiến tranh.
Có những người duy trì đóng góp 3 EUR hay 5 EUR hàng tháng từ lương hưu ít ỏi để ủng hộ cho Việt Nam thông qua MCNV. Đó là những khoản quyên góp rất nhỏ, nhưng bền bỉ qua nhiều thế hệ, chứa đựng tình cảm lớn lao của người dân Hà Lan dành cho những cộng đồng còn nhiều khó khăn ở Việt Nam.
Thông điệp mà người dân Hà Lan muốn gửi đến Nhân dân Quảng Trị là: “Khoảng cách địa lý không thể ngăn cản sự sẻ chia giữa con người với con người”. Họ tin rằng mọi người đều xứng đáng có cơ hội sống khỏe mạnh hơn, có sinh kế ổn định hơn và có một tương lai tốt đẹp hơn. Chính niềm tin đó đã kết nối những tấm lòng ở Hà Lan với người dân Quảng Trị hơn 50 năm qua. Và, MCNV vinh dự là cầu nối.
Luôn có mặt ở những nơi khó khăn
• P.V: Sự thấu hiểu và sẻ chia từ nhân dân Hà Lan phải chăng chính là “kim chỉ nam” định hình triết lý hoạt động của MCNV: Luôn có mặt ở những nơi khó khăn nhất và đứng về phía những người dễ bị tổn thương nhất?
- Ông Phạm Dũng: Đúng như vậy! MCNV không mang đến những giải pháp áp đặt hay những khoản hỗ trợ mang tính ngắn hạn. Chúng tôi luôn mong muốn biến sự sẻ chia của người dân Hà Lan thành những giá trị bền vững thông qua việc đồng hành cùng chính quyền địa phương và cộng đồng để nâng cao năng lực, phát huy nội lực và tạo ra những thay đổi tích cực, lâu dài.
Trong mọi hoạt động hỗ trợ, MCNV luôn đặt con người làm trung tâm, với ưu tiên đặc biệt cho những nhóm dễ bị tổn thương, gồm: Người nghèo, phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật và đồng bào DTTS. Ở Quảng Trị, điều đó được thể hiện rất rõ. Chúng tôi lựa chọn đồng hành với các cộng đồng miền núi, nơi điều kiện phát triển còn nhiều hạn chế và người dân chịu nhiều tác động tiêu cực của nghèo khó cũng như biến đổi khí hậu.
Sau hơn 50 năm, MCNV vẫn kiên trì gắn bó với Quảng Trị. Chúng tôi tin rằng phát triển bền vững chỉ thực sự có ý nghĩa khi những người dễ bị tổn thương nhất cũng có cơ hội được tham gia, được hưởng lợi và cùng phát triển với cộng đồng.
• P.V: Quảng Trị đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những thách thức mới. MCNV đã chuẩn bị những chiến lược gì để tiếp tục sát cánh với tỉnh trong chặng đường sắp tới?
- Ông Phạm Dũng: Trong thời gian tới, chúng tôi cam kết tiếp tục đồng hành cùng Quảng Trị với 2 định hướng quan trọng.
Thứ nhất là thúc đẩy các mô hình sinh kế bền vững, có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, giúp người dân, đặc biệt là phụ nữ và đồng bào DTTS nâng cao thu nhập gắn với quản lý tốt nguồn lực, bảo vệ tài nguyên rừng và môi trường.
Thứ hai là chú trọng phát triển con người thông qua cải thiện dinh dưỡng, nâng cao năng lực, thúc đẩy bình đẳng giới và tạo điều kiện để các nhóm yếu thế tham gia nhiều hơn vào quá trình phát triển. Bên cạnh đó, MCNV sẽ tiếp tục tìm kiếm và kết nối các nguồn lực khác nhau để mang thêm những cơ hội hợp tác mới đến với Quảng Trị.
Với MCNV, Quảng Trị không chỉ là một địa bàn triển khai dự án mà là một đối tác lâu dài. Sau hơn 50 năm đồng hành, chúng tôi tin rằng mối quan hệ hợp tác giữa MCNV và Quảng Trị sẽ tiếp tục được củng cố hướng tới mục tiêu xây dựng những cộng đồng khỏe mạnh hơn, thịnh vượng hơn và có khả năng chống chịu tốt hơn trước những biến động trong tương lai.
• P.V: Xin cảm ơn ông!
Quang Hiệp (thực hiện)









