Điệp trùng yên ngựa trong ký ức người lính

  • 08:48, 02/04/2026
  • icon facebook
  • icon youtube
  • icon titok

QTO - Từ ngàn đời nay, để sinh tồn, người Quảng Trị luôn biết cách tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ. Nhưng núi rừng không chỉ che chắn, bảo vệ cuộc sống trước thiên nhiên khắc nghiệt, mà còn là những thành quách, những công trình quân sự tự nhiên giúp con người can trường trước mọi kẻ thù xâm lược.

Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, núi rừng Quảng Trị là chiến trường ác liệt gắn với bao đời lính một thời “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Trong số họ, có những cựu chiến binh như các ông: Vũ Viết Nhỉ (Sư đoàn 308), Lê Văn Chớ và Nguyễn Hữu Nhị (Sư đoàn 324)… mà tôi may mắn được gặp gỡ, để rồi gắn bó như những người thân yêu.

Chuyện trên cao điểm 235

Cựu chiến binh Vũ Viết Nhỉ, quê gốc Phú Thọ, năm nay hơn 80 tuổi, là lính trinh sát của Trung đoàn 36, Sư đoàn 308. Đời lính của ông hầu như gắn bó trọn vẹn với chiến trường Quảng Trị, từ mặt trận Khe Sanh năm 1968 cho đến chiến dịch giải phóng Quảng Trị năm 1972. Sau ngày đất nước hòa bình, với kiến thức và khả năng thông thạo địa bàn của một người lính trinh sát, ông Nhỉ được đơn vị phân công tiếp tục ở lại Quảng Trị để tìm kiếm, đưa đồng đội đã hy sinh về Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Đường 9 trước lúc tham gia bảo vệ biên giới phía Bắc vào giữa năm 1979. Sau khi rời quân ngũ, hầu như năm nào ông Nhỉ cũng khăn gói về Quảng Trị.

Hơn 10 năm trước, chúng tôi tình cờ gặp nhau khi ông ngược lên cao điểm 235, về phía Bắc sông Ô Lâu, phía Tây Hải Lăng để tìm 3 đồng đội. Trong đó có liệt sĩ Nguyễn Mạnh Chất, quê ở Hà Nội, hy sinh vì bom B52 vào cuối tháng 10/1972. Hôm ấy, sau khi xác định địa hình, đứng trên cao điểm 235, ông đã nhìn rất lâu về phía cao điểm 367, đôi mắt xa xăm: "Chỗ yên ngựa nối với cao điểm 367, một số đồng đội của tôi đã ngã xuống…". Tháng Tư, nền trời xanh cao vời vợi, hoa mua tím ngắt cứ đong đưa trong gió. Giọng của ông thật nhỏ nhẹ nhưng không hiểu sao vẫn nghe rất rõ...

Tác giả tại “Yên ngựa” trên dãy Chiêm Giòng ở miền Tây Hải Lăng - Ảnh: P.T.L
Tác giả tại “Yên ngựa” trên dãy Chiêm Giòng ở miền Tây Hải Lăng - Ảnh: P.T.L

Lần đầu nghe ông nói về “yên ngựa”, tôi không khỏi tò mò. Thì ra, “yên ngựa” là khoảng địa hình chùng xuống giữa 2 đỉnh núi nối nhau-vốn là điểm dừng chân nghỉ ngơi của người lính sau khi vượt qua một đỉnh núi. Nhưng với ông Nhỉ, “yên ngựa” không chỉ là một thuật ngữ địa hình, mà còn là khoảng lặng đến khắc khoải, là nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi về những tháng năm tuổi trẻ và những người thân yêu đã nằm lại.

Hôm ấy ngồi trên cao điểm 235, ông Nhỉ kể cho tôi nghe về cuộc gặp tình cờ giữa ông và 2 cô gái thanh niên xung phong cũng ở chỗ yên ngựa giữa 2 ngọn đồi không tên: “Một cô bị sốt rét, người yếu lắm nên phải nhờ bạn dìu đi từng bước. Lúc đầu, chúng tôi cũng cố tình hành quân thật chậm để hỗ trợ 2 cô. Nhưng hôm sau vì nhiệm vụ nên phải đi nhanh, còn 2 cô nghỉ lại ở một binh trạm giữa rừng. Thế rồi 3 hôm sau, tôi tình cờ gặp lại một cô ở phía bờ Bắc sông Bến Hải. Khi tôi nhắc đến người bạn đồng hành, cô ấy chỉ im lặng ngoảnh mặt đi…”.

Giọng của ông vẫn cứ nhỏ nhẹ như sợ chạm vào câu chuyện cũ. Tôi chợt nghĩ, gần nửa thế kỷ sau chiến tranh, thời gian có thể xóa nhòa đi không ít buồn vui, nhưng với người lính trinh sát Vũ Viết Nhỉ, cuộc gặp ấy chính là "khoảng chùng" khắc khoải nhất trong ký ức đời lính.

Chuyến đi năm ấy, ông Nhỉ không thể tìm thấy đồng đội. Người em trai của liệt sĩ Nguyễn Mạnh Chất đành mang về 7 nắm đất ngay chỗ yên ngựa của cao điểm 235 để làm mộ gió cho anh, rồi thì thầm: “Anh Chất sẽ nằm cạnh mẹ và anh trai tôi hy sinh ở TP. Huế…".

Cựu chiến binh Vũ Viết Nhỉ cùng đồng đội Trần Ngọc Hiền trên cao điểm 367, miền Tây Hải Lăng - Ảnh: P.T.L
Cựu chiến binh Vũ Viết Nhỉ cùng đồng đội Trần Ngọc Hiền trên cao điểm 367, miền Tây Hải Lăng - Ảnh: P.T.L

Ký ức đỉnh Ba Lê-Dốc Miếu

Ông Lê Văn Chớ và Nguyễn Hữu Nhị đều là lính trinh sát thuộc Trung đoàn 812, Sư đoàn 324. Cả 2 cùng quê gốc Hà Tĩnh và cùng có mặt ở chiến trường Quảng Trị từ năm 1968. Nhiều năm sau chiến tranh, với hành trang là tấm bản đồ quân sự ố màu, 2 ông đã không ít lần quay lại Quảng Trị để tìm đồng đội quanh đỉnh Dốc Miếu-Ba Lê, cao 1.102m so với mực nước biển, nơi khởi nguồn của sông A Cho đổ nước vào sông Đakrông về phía Tây và sông Nhùng về phía Đông.

Nằm về phía Tây của cao điểm 235 và cao điểm 367, Dốc Miếu-Ba Lê thực chất là những dãy núi nối tiếp nhau kéo dài khoảng 20 cây số theo hướng Bắc-Nam với rất nhiều “yên ngựa”. Trong ký ức của cựu chiến binh Lê Văn Chớ và Nguyễn Hữu Nhị, vắt qua đỉnh Dốc Miếu-Ba Lê là đường hành quân của bộ đội ta từ miền Tây Quảng Trị xuôi về vùng đồng bằng để đánh giặc, để nhận lương thực và cũng là đường rút quân ngược lên phía biên giới Việt-Lào. Từ sau chiến dịch Mậu Thân 1968, không biết có bao nhiêu người lính trẻ đã nằm lại dọc tuyến đường từ khe Ba Lá lên đỉnh Dốc Miếu-Ba Lê.

Ngược lên Dốc Miếu-Ba Lê, với ông Chớ và ông Nhị là sự thôi thúc bởi tình thương đồng đội-những người bạn chiến đấu năm xưa đã nhường cho họ cuộc sống hôm nay. Những chuyến đi ấy, lòng người luôn trĩu nặng, không phải vì đường sá vất vả, khó nhọc, mà vì thương những tháng năm giặc giã, đói, rét.

Cựu chiến binh Lê Văn Chớ và bà Lê Thị Tuyết, em gái liệt sĩ Cao Bá Thả trên đỉnh Ba Lê  - Ảnh: P.T.L
Cựu chiến binh Lê Văn Chớ và bà Lê Thị Tuyết, em gái liệt sĩ Cao Bá Thả trên đỉnh Ba Lê  - Ảnh: P.T.L

Đại ngàn với những cơn mưa bất chợt, lán che mưa phải dựng vội, núi rừng về đêm rét như cắt, bữa cơm ăn vội lại mang vác lên đường… Thả mình xuống gốc cây, vừa thở vội, vừa như nói với lòng mình: “Cao Bá Thả quê gốc Hà Tây, là bạn của Chớ. Hai đứa rất thân nhau. Thả thường bảo sau này hết chiến tranh nhất định sẽ đưa Chớ về quê để làm mai cho cô em gái…”.

Trên những dãy núi mờ sương như Dốc Miếu-Ba Lê, chỗ yên ngựa thường là suối cạn, lòng suối nhiều đá phủ đầy rêu và ngập nước vào mùa mưa. Tháng 3, hoa rừng khoe sắc tỏa hương, lũ ong rừng hút mật, những cánh hoa rơi rụng trên lối đi phong kín lá vàng khô. Giữa núi rừng Quảng Trị, gần suốt 20 năm đánh giặc, có ngọn núi, dòng suối và lối đi nào mà những người lính như ông Chớ, ông Nhị chưa từng đi qua? Vậy mà, những chuyến đi tìm bạn sao mãi vẫn không thành nên cứ nghẹn ngào ở lưng chừng núi.

Ông Chớ bảo với ông Nhị: "Yên ngựa là vị trí mà người lính không được phép đóng quân, vì kẻ địch từ trên cao sẽ dễ dàng phát hiện. Nhưng sự thật, chúng mình vẫn phải dừng chân sau khi đã vượt qua đỉnh núi hiểm trở…". Giọng ông bất chợt chùng xuống, như tan vào trong gió núi.

Từ cao điểm 235 và trên đỉnh Dốc Miếu-Ba Lê, tôi thử cố nhìn về phía Đông, vẫn không thấy biển, nhưng hình như vẫn nghe rất rõ tiếng sóng biển cứ cồn cào không dứt. Tôi lại nhìn về phía Tây Quảng Trị, trong ánh chiều tà, đại ngàn vẫn điệp trùng yên ngựa.

Phan Tân Lâm

tin liên quan

Những 'khoảnh khắc' của khát vọng hòa bình
Những 'khoảnh khắc' của khát vọng hòa bình
QTO - Từng là "dòng sông hoa lửa" trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt, năm 1973, dòng sông Thạch Hãn lại trở thành chứng nhân lịch sử cho cuộc trao trả tù binh sau Hiệp định Paris. Sự kiện này, qua ống kính của Chu Chí Thành, phóng viên chiến trường của Thông tấn xã Việt Nam, đã được ghi lại chân thực. Sau hơn nửa thế kỷ, những bức ảnh chụp lại khoảnh khắc lịch sử đó vẫn vẹn nguyên giá trị, là biểu tượng rực rỡ cho khát vọng hòa bình của dân tộc.
Hành trình tri ân và hy vọng
Hành trình tri ân và hy vọng
QTO - Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng với nhiều gia đình liệt sĩ, hành trình tìm lại người thân vẫn chưa khép lại khi hàng trăm nghìn hài cốt liệt sĩ trên cả nước vẫn chưa được xác định danh tính. Riêng tại Quảng Trị, mảnh đất từng là “tọa độ lửa” của chiến tranh, hiện còn 4.446 trường hợp liệt sĩ chưa xác định được danh tính. Mỗi ngôi mộ vô danh là một nỗi day dứt, một niềm khắc khoải khôn nguôi…
'Cây sáng kiến' của ngành điện Quảng Trị
'Cây sáng kiến' của ngành điện Quảng Trị
QTO - Gần 20 năm công tác tại Công ty Điện lực Quảng Trị (PC Quảng Trị), thạc sĩ Công nghệ thông tin Lê Công Hiếu (SN 1982), Phó trưởng phòng Viễn thông và Công nghệ thông tin, đã triển khai nhiều giải pháp công nghệ giúp tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.