QTO - Từ thuở lập bản, lập làng, giống lúa nếp than (Đệp cù cha), lúa Ra dư đã theo bước chân thiên di bất định của đồng bào dân tộc Pa Kô lang bạt khắp các cánh rừng Trường Sơn để được gieo ươm qua bao mùa lúa rẫy. Trước đây, giống lúa nếp than, lúa Ra dư chỉ thích hợp nảy mầm trên nương rẫy bám vào sườn đồi, chạy dọc bờ suối hay ngự trên đỉnh đồi cao, thì nay các giống lúa này đã trút bỏ “tính đỏng đảnh” để chịu nảy mầm trên những thửa ruộng thiếu nước ở các xã La Lay, Đakrông…
Có dịp trò chuyện với Nghệ nhân ưu tú Kray Sức, ở xã Tà Rụt và được biết rằng, trong tâm thức của đồng bào dân tộc Pa Kô từ xa xưa đã mặc định giống lúa nếp than, lúa Ra dư nếu mang xuống gieo trồng ở chân ruộng trồng lúa nước là không bao giờ nảy mầm, mọc cây. Giống lúa nếp than, lúa Ra dư phải trồng ở đồi cao, ở lưng chừng núi, dù thời tiết khắc nghiệt đến mấy thì các giống lúa này vẫn phát triển xanh tốt, nếu bón phân thì đến cuối vụ xem như “gặt lá” chứ chẳng có hạt nào.
Có lẽ từ quan niệm trồng giống lúa nếp than, lúa Ra dư trên nương rẫy, không bón phân nên năng suất thấp cộng với việc khi gieo trồng đòi hỏi điều kiện thổ nhưỡng, thời tiết khắc nghiệt như vậy nên theo thời gian có ít gia đình đồng bào dân tộc Pa Kô trồng, thay vào đó người dân chỉ tập trung trồng lúa nước, sắn, ngô… cho năng suất, giá trị kinh tế cao để cải thiện cuộc sống.
Do sinh trưởng, phát triển trong điều kiện đặc biệt đã tạo nên độ dẻo thơm, giàu chất dinh dưỡng của giống lúa nếp than, lúa Ra dư. Ngày xưa, đồng bào dân tộc Pa Kô xem nếp than là phương thuốc để chữa bệnh đường ruột; dùng cho trẻ nhỏ mới ốm dậy hay phụ nữ sau khi sinh… Trong bếp ăn của đồng bào Pa Kô luôn hiện diện nếp than, lúa Ra dư mỗi khi có khách quý đến nhà chơi hay các dịp lễ cúng trọng đại trong gia đình, bản làng.
Cứ vào các dịp lễ hội như Puh Boh (lễ giữ rẫy), Aya (hội mùa), Ariêu Ping (lễ bốc mả), Kăl năng Mương (Hoàn ân thổ thần)… sẽ không thể thiếu các loại bánh peng a chooih, peng tamăr, peng a koat, rượu men lá… được làm từ nếp than, lúa Ra dư, tạo nên nét đặc trưng trong hệ thống lễ hội của đồng bào dân tộc Pa Kô.
![]() |
| Lúa nếp than trĩu hạt trên những thửa ruộng thiếu nước - Ảnh: S.H |
Trước thực trạng nhiều giống cây trồng có nguồn gốc tại địa phương, có chất lượng và giá trị kinh tế cao như nếp than, lúa Ra dư… đang bị thoái hóa, mai một dần, huyện Đakrông (cũ) đã tập trung triển khai thực hiện các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển giống lúa nếp than, lúa Ra dư góp phần lưu giữ nguồn gen quý và mở ra hướng đi mới trong sản xuất các sản phẩm đặc trưng.
Cụ thể, thông qua nguồn vốn hỗ trợ phát triển sản xuất của Chương trình 135, từ năm 2019-2021, huyện Đakrông (cũ) đã hỗ trợ 11 hộ dân ở xã Tà Long (cũ) xây dựng mô hình trồng lúa nếp than trên chân ruộng thường xuyên thiếu nước; hỗ trợ người dân xây dựng mô hình trồng giống lúa nếp than thí điểm trên diện tích 0,25ha cạnh công trình thủy lợi Kỳ Xay (bản A Đeng, xã A Ngo (cũ)). Giống lúa nếp than đã cho năng suất 40 tạ/ha.
Trưởng phòng Kinh tế xã La Lay Nguyễn Hữu Lập cho biết, hiện trên địa bàn xã La Lay có khoảng 3,2ha trồng lúa Ra dư và 0,4ha trồng lúa nếp than được trồng tại bản A Đeng. Thời gian tới, xã La Lay sẽ khuyến khích người dân tăng cường bảo tồn giống lúa nếp than, lúa Ra dư để gìn giữ nguồn gen quý của các loại giống lúa này. Xã La Lay cũng sẽ tìm hướng để từng bước liên kết với các địa phương có diện tích trồng giống lúa nếp than, lúa Ra dư như các xã Đakrông, Tà Rụt… để xây dựng thương hiệu nếp than, lúa Ra dư nhằm nâng tầm giá trị sản phẩm trong tương lai gần.
Sỹ Hoàng









