QTO - Nguyễn Thiên Sơn, nhà thơ quê ở Quy Hậu cho tôi biết chuyện anh đã lập trang web cho làng. Tôi thử vào xem, càng đọc càng cuốn hút bởi nội dung đa dạng, phong phú, linh hoạt không thua kém bất kì trang web nào. Nói về làng mà thấy ra việc nước. Nói chuyện làng khác để nhắc nhở làng mình. Nói cổ mà nghĩ kim. Trang web của một làng mà được nhiều cộng tác viên tham gia, số lượng độc giả truy cập trong và ngoài nước lên tới hàng vạn, quả là điều bất ngờ!
Tình cảm với quê hương ai cũng canh cánh bên mình, nhưng biến thành hành động cụ thể thì không phải ai cũng có điều kiện làm được. Theo tôi được biết người Quy Hậu hiếu học, thông minh, giỏi giang, thành đạt trên nhiều lĩnh vực, sống nhiều nơi trong và ngoài nước. Trang web này chắc chắn trở nên sợi dây ràng rịt máu thịt mỗi khi nhớ đến quê nhà, gốc rễ.
Tôi không am tường nhiều về đất và người Quy Hậu, một vùng quê trù phú nằm nghiêng nghiêng bên dòng Kiến Giang thơ mộng, chỉ xin là một bạn đọc bởi đặt bút viết về một vùng đất đâu phải dễ.
Nguyễn Thiên Sơn có hai câu thơ viết về chiếc nón quê nhà rất cảm động:
Chân trời chòng chành xa cách thế
Từ góc nào cũng nhìn thấy quê hương
Vành nón chòng chành, chứ làm sao chân trời chòng chành được? Nhưng khi nỗi nhớ quê hương đã tràn ngập lòng người, qua thơ, hình ảnh chân trời chòng chành lại có sức biểu cảm da diết hơn nhiều. Câu thơ không nhắc gì đến nón mà người đọc như thấy hình dáng chiếc nón thân thương nơi quê nhà đang hiện ra trước mắt.
![]() |
| Minh hoạ: T.H |
Vậy đó, nói đến Quy Hậu, người ta đã nghĩ ngay tới nón lá Quy Hậu. Nón Quy Hậu đã là một thương hiệu có từ xa xưa, xét về ngành nghề cổ truyền thì đó là nét văn hóa riêng có. Có lần, lúc công tác ở cơ quan Hội đồng nhân dân tỉnh về làm việc ở xã Liên Thủy, huyện Lệ Thủy thời ấy tôi đã nói tới điều này.
Vấn đề làm sao giữ được nghề thủ công truyền thống, đồng thời đưa sản phẩm ra thương trường. Làm sao mọi miền đều ưa chuộng nón lá Quy Hậu, giải quyết việc làm cho con em, mang lại thu nhập kinh tế. Làm sao nón Quy Hậu vừa duyên dáng vừa ích lợi, đây là ích lợi che nắng che mưa, bền chắc trong lao động, nhưng vẫn làm trang sức cho người sử dụng, tạo ra được dáng nét của làng quê Việt Nam.
Chiếc nón không chỉ là chiếc nón, mà đấy là sản phẩm văn hóa mang tâm tính con người, là di sản nghề nghiệp cha ông để lại. Nón Quy Hậu chính là linh hồn người Quy Hậu từ xa xưa đến tận bây giờ. Sản xuất ra chiếc nón và đưa tới mọi vùng miền trên đất nước chính là gửi tâm hồn trắng trong chung thủy, lam làm chịu thương chịu khó của người Quy Hậu đến với cộng đồng dân tộc. Và, không thể không nghĩ tới, ngày nào đó chiếc nón còn vượt ra khỏi biên giới bằng con đường du lịch, thương mại quốc tế.
Ngày xưa mẹ tôi thường ra chợ chọn mua nón Quy Hậu. Mẹ tôi bảo, nón lá Quy Hậu thanh mảnh không kém nón Ba Đồn, duyên dáng không thua nón Huế, lại chắc bền nữa. Đội trên đầu chiếc nón Quy Hậu đi việc làng (lễ hội, Tết nhất, nhóm họp) cũng được, mà cấy hái cũng xong. Nón từng theo chân các cô gái thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ dọc Trường Sơn hùng vĩ, tận các chiến trường Việt Bắc, Tây Nguyên. Nón reo mừng trên các ngã đường thành phố ngày hòa bình lập lại và ngày non sông thu về một mối…
Muốn giữ cho chiếc nón bền và đẹp thì đi một lớp dầu nón, hoặc dầu dừa, có khi quét cả sơn màu. Lâu ngày thường thì rửa bằng nước rồi treo chỗ râm mát. Một chiếc nón dùng tới mấy tháng liền vẫn còn mới.
Giờ đây, công nghệ, lao động máy móc phát triển, điều kiện kinh tế-xã hội đầy đủ, không vì thế mà không cần đến nón. Chiếc nón vẫn cùng người ra đồng, đến với các hội hè vui chơi ca hát, đình đám, những buổi liên hoan văn nghệ, đua thuyền trên sông, các cuộc tế lễ long trọng.
Lại có khi nón làm phương tiện múc nước cho người trong cơn cháy khát, dội mát, thay quạt lúc nóng bức trưa hè. Cầm trên tay chiếc nón vẫy tiễn người thân đi xa, hoặc đón người về, thấy ấm áp dễ thương hơn là giơ cao tay lên vẫy. Trai gái tỏ tình, nón như người thứ ba nghiêng che gương mặt giấu nỗi thẹn thùng ban đầu, những cảm xúc vui buồn, gián tiếp tỏ bày niềm riêng một cách ý nhị.
Ấy thế ca dao cổ mới viết:
Qua cầu ngả nón trông cầu
Cầu bao nhiêu nhịp dạ sầu bấy nhiêu
Sao không ngả gì, mà lại ngả nón? Chiếc nón là bóng, là hình, như một phần tâm hồn hòa trộn, thân thiết, keo sơn của con người. Ngả nón là ngả lòng mình ra, để nhìn, để thấu, để giải bày, để tâm tư. Thật không thể nào hơn khác nữa.
Khi cha mẹ qua đời, con cái cháu chắt đội lên đầu chiếc nón đã cũ, lá nón tơi tả theo sau quan tài để tỏ lòng hiếu thảo, tiếc thương, nhắc nhở những kỷ niệm thời khó khăn cơ hàn. Nón lam lũ thủy chung từ tinh khôi đến rách nát, là bạn của người từ thuở nằm nôi cho đến lúc trút hơi thở sau cùng. Đây là phong tục tập quán có từ xa xưa, đồng thời là nét văn hóa riêng có của cộng đồng dân tộc ta từ miền Nam cho tới miền Bắc.
Nón là ngôn ngữ, là biểu tượng của tình yêu và lòng tôn kính của người Việt. Chiếc nón linh thiêng cao cả làm sao!
Nón Quy Hậu bây giờ đã trở thành thương hiệu sang trọng, cùng với nón Bình Định, nón Huế, nón Hà Tây hoặc nón Lai Châu, Cao Bằng góp một sản phẩm vào “thương trường”-nón trong cả nước.
Người làm ra nón Quy Hậu và người lập trang web này đã và đang gửi đi một thông điệp quý giá với trong và ngoài nước: “Chiếc nón-Linh hồn người Việt”.
Hoàng Vũ Thuật









