QTO - Ông Lê Văn Hoan (SN 1932) quê ở làng Đại An Khê, xã Hải Lăng, là lão thành cách mạng, có nhiều đóng góp cho quê hương, đất nước. Ông từng giữ các chức vụ: Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQVN tỉnh Bình Trị Thiên; Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQVN tỉnh Quảng Trị; đại biểu Quốc hội nhiều khóa. Ông là tác giả cuốn hồi ký “Đất quê hương” do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành và đã được tái bản.
Bài viết tập trung phản ánh những hoạt động cũng như tâm sự của tác giả sau ngày đất nước thống nhất. Những cảm xúc, suy tư của ông vào đầu tháng 5/1975 được thể hiện chân thực: “Tôi chú ý nắm thông tin của tỉnh Quảng Trị và hai tỉnh bạn là Thừa Thiên-Huế, Quảng Bình và cả Vĩnh Linh. Chẳng biết rồi đây sẽ ra sao, sau đó lại nghe đang chuẩn bị văn kiện để sớm tổ chức Đại hội Đảng lần thứ IV. Bởi Đại hội lần thứ III năm 1960 đã xác định: Đại hội Đảng lần thứ IV sẽ họp vào lúc nước nhà được thống nhất. Vậy là đúng 15 năm, một nhiệm kỳ thật lịch sử của Đảng ta”.
![]() |
| Hồi ký "Đất quê hương" của tác giả Lê Văn Hoan - Ảnh: P.X.D |
Tháng 4/1976, ông Lê Văn Hoan được cử giữ chức Bí thư Huyện ủy Hải Lăng. Đến tháng 3/1977, khi huyện Hải Lăng sáp nhập với huyện Triệu Phong thành huyện Triệu Hải, ông tiếp tục giữ cương vị Bí thư Huyện ủy. Chiến tranh vừa kết thúc, đời sống Nhân dân còn muôn vàn khó khăn. Là một cán bộ cách mạng tâm huyết, ông Lê Văn Hoan luôn trăn trở làm thế nào để xây dựng, tái thiết quê hương từ hoang tàn, đổ nát.
Dưới sự lãnh đạo của Bí thư Huyện ủy Lê Văn Hoan, Ban Thường vụ Huyện ủy Hải Lăng đã đề ra nhiều mục tiêu cụ thể để tập trung thực hiện, như: Rà phá bom mìn để phục hóa đất sản xuất, đồng thời hạn chế tối đa thương vong; xây dựng cơ sở vật chất, chú trọng phát triển thủy lợi, tranh thủ công trình đại thủy nông Thạch Hãn; xây dựng nhiều hồ chứa nước như An Đôn, Khe Khế, Phước Môn; xây dựng đê chắn cát từ Cửa Việt đến làng Thanh Hương (huyện Phong Điền cũ), phát triển kinh tế tổng hợp vùng biển, đẩy mạnh đánh bắt, chế biến hải sản, trồng cây lương thực, cây lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
Ngoài ra, huyện còn quy hoạch vùng, tổ chức di dân, tạo động lực phát triển kinh tế. Thực tế những năm sau đó cho thấy địa phương đã đi đúng hướng. Dù đời sống chưa thật sung túc nhưng tình trạng thiếu đói kéo dài đã giảm đáng kể; kinh tế, trước hết là nông nghiệp, có nhiều chuyển biến tích cực.
Cuốn hồi ký viết: Trong một tham luận đọc tại Đại hội Đảng toàn quốc, Bí thư Tỉnh ủy Bình Trị Thiên là đồng chí Bùi San đã nói rõ: "Ở tỉnh Bình Trị Thiên chúng tôi, muốn mua cá thì lên rừng, muốn mua củi thì về vùng biển". Câu nói ấy cho thấy những đổi thay đáng kể sau hòa bình: Vùng rừng có hồ thủy lợi nên có cá, còn vùng biển nhờ trồng rừng chắn cát nên có củi.
Theo tác giả Lê Văn Hoan, phẩm chất quý giá của người cách mạng là biết đặt lợi ích chung lên trên hết; cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, phải có chính kiến, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm. Có thời điểm cấp trên chỉ đạo chặt cây bạch đàn vì lo ngại loại cây này làm thoái hóa đất nên nhiều địa phương trong tỉnh đồng loạt thực hiện.
Riêng huyện Triệu Hải đã có ý kiến đề xuất do Bí thư Huyện ủy Lê Văn Hoan trình bày: “Ở Triệu Hải, đất trống đồi trọc còn nhiều, cần có cây che phủ, cho dù cây xương rồng mọc lên cũng quý”. Ý kiến này được chấp thuận. Tác giả hồi tưởng: “Thời kỳ này chỉ có huyện Triệu Hải là đơn vị duy nhất không chặt phá cây bạch đàn”.
Khi phong trào hợp tác hóa được triển khai mạnh mẽ, ông cũng đã thận trọng khảo sát thực tế, phân tích tình hình và bàn bạc kỹ với Ban Thường vụ để có bước đi phù hợp, tránh nôn nóng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống Nhân dân. Thực tế sau đó đã chứng minh cách làm này là đúng đắn.
Một bài học lớn mà tác giả rút ra từ cuộc đời hoạt động cách mạng là phải luôn gần dân, gắn bó với dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân. Đồng thời, đối với cấp trên phải báo cáo trung thực, rõ ràng, không giấu giếm, không tô hồng hay bôi đen thực tế. Đó cũng là cách làm việc của ông với lãnh đạo cấp trên, trong đó có anh Ba-Tổng Bí thư Lê Duẩn.
Ông Lê Văn Hoan nhớ lại: “Anh Ba hỏi việc gì về huyện, tôi cứ thành thực trả lời, không tô hồng, bôi đỏ, không kêu van khó khăn. Tôi nghĩ những đồng chí như anh Ba quá nhạy cảm với tình hình thực tế chung cả nước. Nói sai sự thật là điều tôi không hề làm từ lúc còn trong chiến tranh. Nay dù trong hoàn cảnh mới thì cũng sự thật báo cáo lại với cấp trên khi cần phải báo cáo".
Cuốn hồi ký được viết bằng giọng văn chân thực, chân tình và sinh động; là một tác phẩm đáng đọc, đáng tin cậy, được nhiều đồng chí, đồng bào, bạn đọc gần xa đón nhận. Sự sàng lọc của thời gian cũng là minh chứng rõ nét cho giá trị của tác phẩm.
Phạm Xuân Dũng









