QTO - Là một trong những cây bút sung sức của tỉnh Quảng Trị, nhà thơ Xuân Lợi vừa ra mắt bạn đọc tập thơ thứ tư, “Nghiêng phía miên man”, NXB Hội Nhà văn -2024.
Với thi phẩm mới này, dễ thấy Xuân Lợi có nhiều tìm tòi, làm mới thơ mình hơn. Chẳng hạn bài thơ viết về một vùng quê Quảng Trị thời chiến tranh, bom đạn. Những người lính về bên mẹ trong chái bếp lợp cọ. Bếp lửa rơm, các anh ràn rụa lối về bởi mắt cay vì khói. Vì rơm ẩm sau mưa mà mẹ già, chái bếp nghèo không che khô được, nhà dột tứ bề.
“Mái cọ lều yên/mơ đêm ngẩn ngơ trăng khuya dọi/chái bếp khói rơm ràn rụa lối về/ngai ngái mùi bùn áo chàm bóng mẹ/miết vào tim/từng sợi mây thôi bảng lảng/cau non dầm thân buồng chuối trái treo lặng lẽ (Đêm ký ức).
“Ràn rụa lối về”, “ngai ngái mùi bùn áo chàm bóng mẹ”, “miết vào tim”…, câu chữ đơn sơ nhưng đặt vào ngữ cảnh này thật đắt.
Trong mạch ký ức, Xuân Lợi nhớ một chiều xuân, nhớ câu chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều mà viết về mùa hoa cải bên sông da diết. Những câu thơ đẹp và buồn. Những người thật buồn: Lứa đôi níu một con đò bơ vơ, nơi bến sông vật vờ nông sâu kiếp người hoang lạnh. Xuân Lợi có những liên tưởng lạ:
“Nhớ người vốc nước cầu phao/rưới lên bóng nắng chênh chao hững hờ/chiều xưa nhuộm tái lòng người/chiều nay để ngỏ một trời mưa bay” (Nhớ mùa hoa cải bên sông).
![]() |
| Bìa sách Nghiêng phía miên man - Ảnh: P.T |
Ở đất Quảng Trị anh hùng, không ai, không điều gì có thể lãng quên, bài “Nghĩa trang sông” nhắc nhớ về những người đã hy sinh với sự xúc động chân thành. Tựa đề bài thơ mang hàm nghĩa như ý thơ Lê Bá Dương ngày nào. “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/đáy sông còn đó bạn tôi nằm”. Dưới dòng Thạch Hãn, bao người hy sinh, nằm lại đất thiêng Quảng Trị.
“Bến hoa sông này sao quên/đêm chới với dòng sông màu đỏ/nghĩa trang sông không nấm mộ, dòng tên/nửa thế kỷ lặng lờ trôi/thăm thẳm đời sông đôi bờ bồi lở/bên nghĩa trang sông lặng lẽ/nhìn gì ngấn nước xa xăm”.
Nhịp thơ chậm, lời thơ buồn, những câu thơ như cứa lòng người. Đời sông thăm thẳm, đời người hy sinh cho đất nước trường tồn luôn được nhắc nhớ. Lòng biết ơn luôn là phẩm tính cần có của người đời.
Cũng viết về dòng sông, nhưng sông Nhật Lệ vào thơ Xuân Lợi đầy nhạc tính, như khúc ca hân hoan ngày hạnh ngộ, những điệp ngữ, hình ảnh ảo huyền:
“Bồng bềnh trăng/bồng bềnh sông mây/ơi Nhật Lệ giấu ngày vào đêm/bồng bềnh trăng/bồng bềnh sông mây/ơi Nhật Lệ giấu trăng vào ngày/bồng bềnh trăng rơi trăng rơi/trăng buông trăng buông”...
Người đọc cũng lâng lâng theo nhà thơ khi theo con thuyền xuôi về thành phố. Dòng sông. Sóng. Gió. Mây trôi. Tất cả bồng bềnh:
“Bồng bềnh hương/bồng bềnh trăng/bồng bềnh sông mây/bồng bềnh lung linh/lung linh Nhật Lệ” (Nhớ hoài sông trăng).
Nhà thơ có những phút giây lãng đãng, cái nòi thi sĩ thì chuyện nhớ nhớ quên quên là lẽ thường tình. Một bữa… ngộ ra, sắp bày, chiêm nghiệm bằng những câu lục bát:
“Bỗng im như thế đêm không/bỗng nghe lá rớt nhạc lòng chơi vơi/bỗng buồn chiều hẹn lại thôi/bỗng hay thấp thoáng đò trôi mong chờ/bỗng thương gàu nước lẳng lơ/bỗng đau quang gánh em giờ nhẹ tênh/bỗng thèm vạt tóc gót sen/bỗng ghen nón tím thân quen ngày nào/ bỗng hờn giận dỗi vì sao/bỗng hồn vương vấn lẽ nào/bỗng quên”.
Bài “Bỗng quên” có thể xem là một trong những bài thơ hay của thi tập này. Quên nhớ miên man. Liệt kê mà không nhàm chán, mà người đọc bất ngờ, thích thú. Dắt đi từ đêm im ắng, nghe lá rụng trong vườn. Nhớ về chiều nào dở dang hò hẹn, con đò trôi trong ký ức. Rồi ký ức đưa về không gian gần hơn, em dịu dàng nón tím, gánh nước về nhà mà nhẹ tênh mọi nỗi. Rồi hồn trở lại vấn vương, mới hay còn nhớ, tự nhủ rằng: Bỗng quên… Những chi tiết hay, lạ: Gàu nước lẳng lơ, vạt tóc gót sen… cũng làm bài thơ duyên dáng, nỗi buồn cũng chỉ quẩn quanh trong đêm vắng mà tan…
Xuân Lợi thể hiện rõ sự chắc tay dần lên trong thi pháp, kỹ thuật và cấu tứ, bạn thơ và người đọc nhận ra anh định hình phong cách thơ trữ tình, chặt chẽ ý tứ mà vẫn phóng khoáng, bay bổng cùng những lúc thi hứng tràn trề. Bài thơ “Đà Lạt tìm nhau” là một ví dụ. Hầu như người biết làm thơ nào đến với xứ sở ngàn hoa cũng bật lên ý thơ, hoặc dăm câu hoặc một vài bài thơ trọn vẹn. Viết về Đà Lạt dễ trùng lặp ý tưởng, ngôn từ, thi ảnh. Xuân Lợi chọn một góc khác, “Đà Lạt tìm nhau”, dù góc này thơ – nhạc cũng khai thác không ít. Dĩ nhiên phải là một mình, giữa ngàn hoa thì tâm trạng cũng sắc màu: “mắt xanh lòng tím ngắt”, nhớ “nét hồng đôi má ửng”. Lúc này mây núi cũng đong đưa: “bóng núi chao”, “ấm lạnh xa gần áng mây bay”… Trong chiều cao nguyên quạnh quẽ, bất chợt nhận ra bao dấu chân mòn mỏi tìm nhau, người tìm nhau, Đà Lạt tìm nhau:
“Chiều không em/thác Prenn buồn giận dỗi/bước chân nào lần vết tìm nhau/mây ôm núi/ngàn thông rưng rưng gió/anh tìm em Đà Lạt tìm nhau”.
Nhưng thơ chính là đời. Con người ngoài đời của Xuân Lợi chân thành, hết lòng yêu kính mẹ, chăm sóc gia đình chu đáo, quan tâm gần gũi bạn bè thân quý… Bài thơ làm tựa đề cho tập thơ này của anh, “Nghiêng phía miên man” là bài thơ cha làm cho con gái đang đi học xa nhà ở Hà Nội. Dĩ nhiên tình thương của cha dành cho con gái bao giờ cũng thật đặc biệt, hầu như người cha nào cũng thấy con gái đã lớn, đã trưởng thành của mình vẫn còn bé bỏng. Con đi xa là lo từ miếng ăn, giấc ngủ đến chuyện học hành, công việc. Thương, lo, rồi dặn dò, mừng cho con. Cứ thế mà nằm miên man nhớ con suốt đêm dài, câu thơ cứ nghiêng về phía con gái yêu thương:
“Đầu đông chớm con đường đến lớp/khăn quàng áo ủ ấm nghe con/ba cưng chiều thương từng bữa cơm/lo da diết lưng rau thiếu cá/con chăm học vì yêu mẹ nhất/ít vu vơ bởi sợ ba buồn/sương xuống thấm sững sờ gió bấc/trở mình ba nghiêng phía miên man”.
Xuân Lợi yêu quê hương xứ sở, người quê cứ thấm thía với những địa danh và tiếng quê thân thuộc: “Đồng làng/biền Tổng, ruộng Áy/đi xa còn nhớ/đỉa Cơn Đa/nước ngá Cồn Vịt/mắm tràu Bến Sanh/chợ Cầu mưa phanh/dù xa xôi/có trăm ngàn lối/có gọi đừng chối/nhớ về nha, mình đợi/lam kiều sương khói rơm (Sương khói rơm thơm).
Xuân Lợi sống tình cảm nên thơ anh không thể thiếu những trầm ngâm thế sự mà anh chiêm nghiệm trong đời: “Rồi sẽ đến/say, ngỡ mình ngất ngưởng/buồn cũng lạnh lùng ngoảnh mặt làm ngơ/ rồi đến lúc/gian ngoa lừa lọc phẫn nộ/án lương tâm phán phận người/rồi đến khi/buông bỏ tất/mà ngậm cười cay đắng/quay về không người đợi có ai chờ” (Rồi cũng đến).
Thấu ngộ đời là lẽ vô thường, Xuân Lợi đúc kết cho mình một an nhiên lựa chọn: “Đôi khi/nhanh tay chậm chân còn may mắn/hoa sắc lắm cánh nhiều gai/tâm hay lòng tốt/xa xỉ/thỏ hay rùa nào chi thanh thản/an nhiên nhé/chốn mùi màu trần ai” (Vô thường người ơi).
Trong thi tập này, nhà thơ có những chữ nghĩa phá cách mà hay, tạo hiệu ứng, để người đọc ngẫm ngợi, đồng cảm: “Làn tóc len ót/hương nõn gọt bên thềm”. “Biết em/thời lúa đòng thì con gái/hương đồng ngậm sữa/hạt mẩy đa tình”.
“Vòm xanh nhành lan nhả hạt/phơn phớt tím dịu dàng nhạt thắm lẻ loi”.
Chúc mừng nhà thơ với thi phẩm mới, tin rằng anh sẽ vững bước trên hành trình thi ca.
Bùi Phan Thảo









