QTO - Khi những dấu hiệu bất thường bị bỏ qua, hành trình làm mẹ có thể đối mặt với những biến chứng khó lường, thậm chí đe dọa tính mạng của cả mẹ và con. Bởi vậy, cần nhận diện đúng mức độ nguy hiểm của thai kỳ nguy cơ cao để có sự chủ động theo dõi, can thiệp kịp thời và xây dựng kế hoạch chăm sóc phù hợp, bảo đảm an toàn tối đa cho cả mẹ và thai nhi.
Đừng bỏ lỡ những cảnh báo sớm
Trong quá trình mang thai, bệnh nhân B.T.N.P. (30 tuổi), đi khám đều đặn và sàng lọc đái tháo đường thai kỳ ở tuần 24 hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên, đến tuần 37, khi siêu âm ước lượng cân nặng thai nhi gần 5kg, các bác sĩ cho kiểm tra đường huyết và kết quả, chị P. bị đái tháo đường thai kỳ với HbA1C 7,5%.
Trước tình huống thai rất to kèm rối loạn đường huyết, các bác sĩ Khoa Sản, Bệnh viện hữu nghị Việt Nam-Cuba Đồng Hới (HNVN-CBĐH) quyết định mổ lấy thai cấp cứu. Em bé chào đời nặng 5,1kg. Những giờ đầu sau đẻ, em bé bị hạ đường huyết và phải chuyển sang Khoa Sơ sinh để theo dõi, điều trị. May mắn, sau 1 tuần, em bé đã ổn định, bú tốt và được xuất viện khỏe mạnh.
![]() |
| Ê kíp Sản-Nhi, Bệnh viện hữu nghị Việt Nam-Cuba Đồng Hới thực hiện hồi sức cho một ca trẻ sơ sinh cực non - Ảnh: H.L |
Bác sĩ Phan Thị Hằng, Phó Trưởng khoa Sản, Bệnh viện HNVN-CBĐH cho biết, nhiều thai phụ làm sàng lọc đái tháo đường thai kỳ đúng mốc, kết quả tốt nên nghĩ rằng mình đã an toàn và khá chủ quan. Tuy nhiên, đái tháo đường thai kỳ có thể xuất hiện muộn, đặc biệt trong những tháng cuối thai kỳ.
“Khi nhu cầu dinh dưỡng tăng, ăn uống nhiều hơn và cân nặng tăng nhanh, đường huyết có thể tăng lên mà mẹ bầu không nhận ra. Thai to làm tăng nguy cơ mổ lấy thai và băng huyết sau đẻ. Với em bé, nguy cơ hạ đường huyết sau đẻ, khó khăn về hô hấp, thậm chí về lâu dài có thể liên quan đến béo phì và đái tháo đường”, bác sĩ Hằng cho biết.
Ngược lại, cả quá trình mang thai, chị B.T.Q. (41 tuổi), trú xã Quảng Trạch, chỉ theo dõi sức khỏe ở nhà, siêu âm chứ không đến các cơ sở chuyên khoa để thăm khám. Đến khi xuất hiện tình trạng chóng mặt, vỡ ối non, đau đầu dữ dội, huyết áp tăng rất cao, phù nhẹ 2 chân, chị mới được đưa đến bệnh viện. Chẩn đoán lâm sàng nhận định, chị Q. bị tiền sản giật nặng.
Bác sĩ Trần Huy Bình, Khoa Phụ sản, Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Quảng Trị cho biết: “Ngay lập tức, báo động đỏ nội viện được kích hoạt. Bệnh nhân đã được cho thở oxy, sử dụng thuốc hạ huyết áp tức thời, dự phòng cơn co giật của sản giật, kết nối monitor để theo dõi các dấu hiệu sinh tồn trước khi chuyển vào phòng mổ "bắt con". Sản phụ có nguy cơ rối loạn đông máu nên bác sĩ gây mê phải xây dựng phác đồ phù hợp để gây mê toàn thân. Ca mổ thành công, mẹ con sản phụ an toàn. Nếu cấp cứu chậm vài phút nữa là có nguy cơ ảnh hưởng tính mạng của mẹ và thai nhi”.
Chủ động để hành trình làm mẹ an toàn hơn
Từ những ca bệnh thực tế, có thể thấy việc chậm phát hiện hoặc chủ quan trước các yếu tố nguy cơ có thể đẩy thai phụ vào tình huống nguy hiểm. Chủ động nhận diện và kiểm soát thai kỳ nguy cơ cao vì thế trở thành yêu cầu quan trọng.
Theo tiến sĩ, bác sĩ sản khoa Trần Thị Sơn Trà, Phó Giám đốc Bệnh viện HNVN-CBĐH, thai kỳ nguy cơ cao là khi sức khỏe của người mẹ, thai nhi hoặc cả hai có khả năng gặp các biến chứng bất lợi so với bình thường. Nếu không được quản lý tốt, các yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng như sẩy thai, thai lưu, đẻ non… hoặc đe dọa tính mạng. Tuy nhiên, đây không phải là “bản án” cho một kết cục xấu, mà là tín hiệu để thai phụ được theo dõi và chăm sóc kỹ lưỡng hơn ngay từ sớm.
Theo bác sĩ Trà, thai kỳ nguy cơ cao có thể đến từ nhiều yếu tố, thường được chia thành 5 nhóm chính. Trong đó, phổ biến là nhóm liên quan đến thể trạng người mẹ như quá trẻ (dưới 16 tuổi), lớn tuổi (trên 35 tuổi), quá béo (trên 70kg), quá gầy (dưới 40kg), chiều cao dưới 145cm hoặc có bất thường về giải phẫu đường sinh dục… Thứ hai là các bệnh lý nền của thai phụ như tăng huyết áp mạn tính, bệnh thận, bệnh tim, các rối loạn nội tiết, bệnh lý hệ miễn dịch…
Tiền sử thai sản cũng là yếu tố quan trọng cần lưu ý, đặc biệt ở những trường hợp từng sẩy thai liên tiếp, thai chết lưu, bất đồng nhóm máu mẹ con, tiền sử tiền sản giật, sản giật hoặc từng mổ lấy thai… Trình độ văn hóa thấp, điều kiện kinh tế khó khăn, ở xa cơ sở y tế hoặc giao thông không thuận tiện được xếp vào nhóm 4.
Những bất thường phát sinh trong thai kỳ như rau tiền đạo, rau bong non, đa thai, đa ối, thiểu ối, hoặc thai chậm tăng trưởng cũng được xếp vào một nhóm nguy cơ.
![]() |
| Việc khám thai định kỳ giúp hành trình làm mẹ trở nên an toàn hơn - Ảnh: H.L |
Để hạn chế tối đa các biến chứng, việc khám thai định kỳ đóng vai trò then chốt. Tiến sĩ, bác sĩ Trần Thị Sơn Trà cho biết, theo hướng dẫn quốc gia, có những "thời điểm vàng" thai phụ tuyệt đối không nên bỏ lỡ. 3 tháng đầu là thời điểm quan trọng nhất để tầm soát bất thường nhiễm sắc thể (đo độ mờ da gáy, làm Double Test hoặc NIPT) và sàng lọc sớm nguy cơ tiền sản giật. Ở 3 tháng tiếp theo (20 tuần-22 tuần), việc siêu âm hình thái học có thể phát hiện các dị tật bẩm sinh (nếu có) và cấu trúc cơ thể thai nhi, chiều dài cổ tử cung để tầm soát nguy cơ sinh non. Ở thai kỳ tuần 24-28, có thể thực hiện sàng lọc đái tháo đường thai kỳ.
Đến tuần thứ 30-32, việc siêu âm đánh giá sự tăng trưởng của thai nhi và phát hiện các bất thường xuất hiện muộn ở não hoặc tim. Tới tuần 35-37, thai phụ nên thực hiện xét nghiệm liên cầu khuẩn nhóm B (GBS) và đánh giá ngôi thai, trọng lượng thai để tiên lượng cho cuộc chuyển dạ.
Song song với việc theo dõi y tế, thai phụ cần duy trì chế độ dinh dưỡng hợp lý, giữ tâm lý ổn định và vận động phù hợp như đi bộ, yoga hoặc bơi lội. Những thói quen hoạt động thể lực có thể dự phòng hoặc điều trị đái tháo đường thai kỳ cũng như các biến chứng tắc mạch huyết khối trong và sau sinh.
Đối với trường hợp thai kỳ nguy cơ cao, cần chuyển thai phụ tới các cơ sở y tế chuyên khoa sản, có đủ trang thiết bị y tế để xử lý các tình huống khẩn cấp. Một thai kỳ nguy cơ cao cần sự phối hợp của bác sĩ sản khoa, bác sĩ nội khoa (tim mạch, nội tiết), bác sĩ dinh dưỡng và đặc biệt là đơn vị chăm sóc sơ sinh tích cực (NICU) để chăm sóc trẻ sơ sinh ngay sau khi chào đời.
Thai phụ có thai kỳ nguy cơ cao cần nghỉ ngơi đúng và đủ, không sử dụng các chất kích thích (thuốc lá, rượu bia…) và tuân thủ tuyệt đối lịch khám chuyên khoa. Sự chủ động của người mẹ, cùng với sự đồng hành của gia đình và hệ thống y tế, chính là yếu tố quyết định giúp hành trình làm mẹ trở nên an toàn hơn.
Hương Lê









