icon facebook Facebook icon phone Liên hệ
icon category Chuyên mục

Dâng tuổi xuân cho đất nước thanh bình

  • 07:04, 31/07/2026
  • icon facebook
  • icon youtube
  • icon titok

QTO - Tháng 7 lại về. Những nghĩa trang ấm áp hơn trong khói nhang thơm trên những nấm mồ liệt sĩ. Những anh linh hiển hiện trong niềm tiếc thương của người thân, đồng chí, đồng bào.

Hơn 20 năm cách biệt

Chiều Vị Xuyên mây trắng cùng màu đá trắng đạn pháo xới trên vách núi những tháng năm khốc liệt, những vòng hoa trắng trên biển ở Trường Sa và giọt nước mắt rơi của người con gái chưa được nhìn mặt cha khi cha hy sinh trong trận chiến bảo vệ biển đảo của Tổ quốc, hải chiến Gạc Ma năm 1988… Cô gái ấy nhờ các chiến sĩ Hải quân múc những gàu nước biển từ Trường Sa để cô nâng niu, đem về quê nhà miền Trung, về nhà riêng ở TP. Hồ Chí Minh, đặt lên bàn thờ cúng cha mình…

Gia đình tôi cũng kẻ mất người còn sau hai cuộc kháng chiến. Ông bà nội tôi đông con. Từ miền quê Quảng Trị, các bác, các chú của tôi người vào Vệ Quốc đoàn từ thời chống Pháp, người tập kết ra Bắc năm 1954, rồi cũng vào bộ đội giải phóng hoặc công tác ở miền Bắc những năm trước đại thắng mùa xuân 1975. Ba tôi và chú tôi ở lại quê để phụng dưỡng ông bà nội…

Tin tức từ miền Bắc với nhà tôi chủ yếu qua người thân bằng nhiều nguồn khác nhau, nhờ đó, ông bà nội tôi biết tin và vơi bớt phần nào nỗi nhớ con.

Sau khi Đà Nẵng được giải phóng vào ngày 29/3/1975, vào tháng 4/1975, ba tôi đưa bà nội tôi và cả gia đình từ Đà Nẵng về lại Quảng Trị. Lúc này các tỉnh miền Trung lần lượt được giải phóng, bộ đội ta đã tiến sát đến Sài Gòn và ngày 30/4/1975, toàn miền Nam được giải phóng.

Ông Bùi Thế Tâm (hàng ngồi, giữa) cùng các đồng đội tại Trường Sơn những năm kháng chiến chống Mỹ - Ảnh: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH
Ông Bùi Thế Tâm (hàng ngồi, giữa) cùng các đồng đội tại Trường Sơn những năm kháng chiến chống Mỹ - Ảnh: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH

Những người con của một thời chinh chiến

Cũng như gia đình tôi, những dòng người Quảng Trị ly tán vào các tỉnh phía Nam đều tất bật trở về. Lại phần nhiều là những đôi quang gánh, hầu như không có tài sản gì lớn lao. Có lẽ, tài sản lớn nhất của những gia đình này là đàn con. Đứa lớn đi lúp xúp, đứa nhỏ ngồi trong thúng do mẹ gánh, những đôi mắt tròn xoe, nhìn cảnh quê hương vừa quen, vừa lạ với ruộng vườn, dòng sông, những triền đồi lúp xúp sim mua…

Ba mạ cho tôi theo bà nội và bà Hy, em ruột bà nội tôi (bà Hy là mẹ của nữ Nghệ sĩ ưu tú Tân Nhân, người nổi tiếng với ca khúc “Xa khơi” của Nguyễn Tài Tuệ đắm say bao thế hệ người Việt) cùng o Tân Nhân ra miền Bắc. O Tân Nhân công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam, vào Đà Nẵng thăm ba mẹ sau mấy chục năm thoát ly đi kháng chiến, nay trở ra cùng mẹ và dì để hai bà mẹ thăm người thân đi tập kết và gặp lại các con…

Xe ra đến Hà Nội chiều tối 28/4/1975, hầu như cả đại gia đình đều tập trung ở nhà bác Bùi Tô Khuyến (là con trai cả của ông bà nội tôi) để đón. Bác Khuyến công tác ở Tổng cục Chính trị, sống ở khu tập thể quân đội 18B Cửa Đông. Cả khu tập thể ra mừng, chào hai bà từ miền Nam ra thăm Hà Nội, đoàn tụ gia đình. Bác trai thứ ba của tôi là Bùi Thế Tâm, đại tá, Phó Chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh Trường Sơn (559) vẫn còn bộn bề công việc tại đơn vị, không thể có mặt tại Hà Nội trong cuộc sum vầy.

Trước đó, những ngày đầu tháng 4/1975, bác Tâm đã được gặp bà nội tôi và bà Hy sau 21 năm lên đường trận mạc. Mẹ con, dì cháu gặp lại nhau đầy xúc động. Chiếc xe đưa bà nội tôi, bà Hy cùng con cháu ra Hà Nội là xe của Bộ Tư lệnh Trường Sơn ra Hà Nội công tác, sẵn dịp đưa bà đi theo luôn. Xe đi từ Bộ Tư lệnh ở Trường Sơn, ra trạm ở Cửa Tùng cho hai bà nghỉ ngơi rồi mới ngược ra Bắc.

Bà Kim Quy (ngoài cùng bên trái) cùng các em bên ngôi mộ của bác Bùi Ngọc Thanh - Ảnh: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH
Bà Kim Quy (ngoài cùng bên trái) cùng các em bên ngôi mộ của bác Bùi Ngọc Thanh - Ảnh: TƯ LIỆU GIA ĐÌNH

Kẻ mất người còn

Cùng có mặt tại buổi đoàn tụ gia đình này còn có o Bùi Thị Hướng, con gái đầu của ông bà nội tôi, công tác ở Bộ Giáo dục; chú Bùi Công Hữu, em kế ba tôi, công tác ở Quảng Ninh (sau chuyển vào Kiên Giang làm trọng tài kinh tế của tỉnh); chú Bùi Thế Vĩnh, em kế chú Hữu, lấy bằng tiến sĩ và giảng dạy ở Cộng hòa Dân chủ Đức, cũng về nước dịp này (sau đó chú Vĩnh là giáo sư giảng dạy tại Trường đại học Kinh tế quốc dân và Học viện Hành chính quốc gia). Chị Kim Quy, con gái của bác Thanh, anh kế ba tôi, đang là sinh viên Trường đại học An ninh lúc ấy ở Cầu Giấy cũng về họp mặt.

Nhìn cảnh gia đình đoàn tụ, ai cũng rơi nước mắt. Vì hạnh phúc. Và cả buồn đau. Hạnh phúc khi đàn con 12 người của ông bà nội tôi, 6 người đi tập kết có 3 người là sĩ quan quân đội, hai bác Khuyến và Tâm lúc chiến dịch Điện Biên Phủ đều là cán bộ cấp tiểu đoàn, bác Thanh năm 1965 là thượng úy đại đội trưởng công an vũ trang (Bộ đội Biên phòng ngày nay); o Hướng, chú Hữu và chú Vĩnh đều công tác tốt như đã nói ở trên.

5 người con ở lại miền Nam thì o Tuyết và chú Lạch mất sớm, chú Ngạn đi du kích chống Mỹ và hy sinh năm 1968. Chỉ có ba tôi ở Đà Nẵng làm nhiệm vụ phụng dưỡng ông bà nội, chú Út làm việc ngành y ở miền Nam. Tôi còn bác thứ ba là liệt sĩ Bùi Đình Luyện, tham gia kháng chiến chống Pháp và bị giặc bắt, thủ tiêu.

Bên cạnh niềm vui đoàn tụ, niềm hạnh phúc non sông thống nhất là nỗi buồn vì những mất mát, đau thương. Bác Luyện, bác Thanh, chú Ngạn đã hy sinh, không kịp thấy ngày đất nước hòa bình. Chị Kim Quy ôm bà nội, các chú bác, các em với đôi mắt đỏ hoe, nước mắt lưng tròng.

Đối với chúng tôi, chị Kim Quy như là chị cả trong gia đình. Bác Thanh là con thứ năm nhưng chị Quy là cháu đầu tiên của ông bà, các anh con bác khác đều sinh sau chị. Hơn nữa, bác Thanh đi tập kết, chị ở nhà, sống trong tình thương của ông bà nội và các chú thím, các em.

Ông nội tôi mất năm 1966, bà nội tôi mất năm 1983. Bà nội tôi được nhìn thấy đất nước thống nhất, ôm những con cháu trong vòng tay sau hơn 20 năm, song ông nội tôi thì không thể. Dẫu biết đó là những mất mát chung của đất nước, của bao người dân Việt để cho non nước thanh bình, nhưng vẫn là những mất mát không có gì có thể bù đắp nổi. Càng thấm thía cái giá của hòa bình, của máu xương đổ xuống đất này, càng phải biết sống yêu thương nhau trong tình Tổ quốc, nghĩa đồng bào, cùng chung sức dựng xây nước Việt Nam hùng cường.

Ðau đáu tìm mộ cha

Từ Quảng Trị, chị Kim Quy ra Bắc theo kế hoạch K8, học trường học sinh miền Nam rồi về học tại Trường đại học An ninh. Ra trường, chị được điều vào TP. Hồ Chí Minh công tác trong ngành công an. Chị về hưu với hàm đại tá. Những năm còn công tác, chị đau đáu một nỗi chưa tìm được hài cốt của cha mình. Biết được vùng đất nơi bác hy sinh, nhưng những manh mối theo thời gian đã mất dần khi người cùng chiến đấu đã qua đời, thông tin liên quan cũng không đem lại hy vọng cho gia đình.

Nỗi niềm không tìm được cha vẫn canh cánh trong lòng chị. Nghe ở đâu có thông tin về hài cốt hay mộ liệt sĩ là chị đi tìm. Chị cũng đến với các nhà ngoại cảm với hy vọng có thể tìm được hài cốt của bác, có lúc đã lóe lên những tia hy vọng, khấp khởi mừng thầm, tưởng rằng đã tìm được mộ của bác nhưng đều thất vọng. Năm nào đám giỗ bác, chúng tôi cũng thắp hương, khấn nguyện được rước bác trở về và nước mắt lại rơi khi nghĩ đến khu đất nghĩa trang của gia đình vẫn chưa được đón bác…

Nhưng thật may mắn khi năm 2024, qua nhiều nguồn thông tin, chị Kim Quy được cơ quan chức năng tỉnh Quảng Trị cho biết đã tìm lại được cả ba hài cốt liệt sĩ của gia đình chúng tôi. Chú Ngạn khi hy sinh được chôn ở làng Lâm Xuân, còn bác Luyện và bác Thanh đều tìm được hài cốt và quy tập về khu nghĩa trang của làng Mai Xá (nay thuộc xã Cửa Việt, tỉnh Quảng Trị). Cả đại gia đình vỡ òa trong xúc động. Từ TP. Hồ Chí Minh, chị Kim Quy và hai con vội vã về làng, tề tựu bên phần mộ người thân.

Khi tôi viết những dòng này thì 11 người con của ông bà nội tôi và o Tân Nhân đều đã qua đời, chỉ một mình chú Bùi Công Hữu còn sống tại Rạch Giá ở tuổi hơn 90. Thời gian trôi rất nhanh, năm 1975 tôi là chú bé 12 tuổi thì nay tôi đã vào tuổi 63. Tuổi đời đầy lên, càng thấu hiểu về sự hy sinh của thế hệ đi trước, bình dị mà cao cả, như lẽ tất yếu, lẽ sống của người nước Việt, với lòng yêu nước truyền đời.

Những người dân của đất nước này, qua bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước đã đổ bao máu xương, bao người hy sinh cho sự trường tồn của đất nước. Những người đã hy sinh, đã nằm sâu dưới lòng đất quê hương nước Việt này, thân thể tan vào đất mẹ để đất nước hòa bình, phát triển mạnh giàu.

Bùi Phan Thảo

tin liên quan

Tháng 7 trên vùng đất dũng sĩ Phường Sắn
Tháng 7 trên vùng đất dũng sĩ Phường Sắn
QTO - Thực ra trong ký ức tuổi thơ, tôi đã có đôi lần được nghe về địa danh Phường Sắn qua câu chuyện kể từ những bạn học thuở cấp ba ở các xã Hải Thượng, Hải Phú (cũ). Cho đến một ngày giữa tháng 7, theo hành trình tri ân của các cựu chiến binh thăm lại chiến trường xưa, tôi mới được đặt chân đến Phường Sắn, một “địa chỉ đỏ” trên mảnh đất Quảng Trị anh hùng.
Một đoạn đường liên xã ở Lệ Thủy sụt lún nghiêm trọng
Một đoạn đường liên xã ở Lệ Thủy sụt lún nghiêm trọng
QTO - Một đoạn đường liên xã dài khoảng 60m qua thôn Thạch Tân (xã Lệ Thủy) vừa bị sụt lún nghiêm trọng với độ sâu từ 0,5-1,7m. Khu vực xảy ra sự cố nằm sát dự án nạo vét kênh Phú Thọ đang thi công. Chính quyền địa phương đã khẩn trương phong tỏa hiện trường, cấm các phương tiện qua lại và lập biên bản báo cáo để kiểm tra nguyên nhân, tìm phương án khắc phục.
45 năm canh 'giấc ngủ' liệt sĩ
45 năm canh 'giấc ngủ' liệt sĩ
QTO - Không quản ngại nắng mưa, vất vả, từ những ngày đầu hình thành nghĩa trang đến nay đã gần 45 năm, người cựu chiến binh từng trải qua hai cuộc chiến tranh đã tình nguyện chăm sóc khu nghĩa trang liệt sĩ nơi miền cát. Ông là Hồ Văn Thành (71 tuổi) ở xã Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.