QTO - Sau khi thất bại ở kinh thành Huế, các tướng sĩ cùng vua Hàm Nghi ra căn cứ Tân Sở ở xã Cam Lộ. Tại đây, vua đã ban Dụ Cần Vương, kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Khi giặc Pháp truy đuổi gắt gao, vua và các tướng sĩ lên thung lũng Ma Rai, Khe Ve (khu vực biên giới của huyện Minh Hóa cũ) để xây dựng “kinh đô kháng chiến”. Năm 1888, vua Hàm Nghi bị giặc Pháp bắt nhưng câu chuyện về ông, kho báu và phong trào Cần Vương vẫn được người dân lưu truyền đến bây giờ…
Vị vua trẻ yêu nước
Theo các tài liệu lịch sử, tháng 8/1883, thực dân Pháp chiếm kinh đô Huế lần thứ hai. Để chống lại giặc ngoại xâm, đại thần Tôn Thất Thuyết tổ chức quân triều đình tấn công phủ đầu các trại lính và Tòa Khâm sứ Pháp ở Huế. Cuộc tấn công thất bại, các đại thần cùng vua Hàm Nghi rời kinh thành Huế ngày 5/7/1885 ra căn cứ Tân Sở (xã Cam Lộ) đã được xây dựng trước đó để tiếp tục lãnh đạo Nhân dân kháng chiến.
Ngày 13/7/1885, vua ban chiếu Cần Vương, kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống giặc ngoại xâm. Ông Nguyễn Văn Hiếu, Trưởng thôn Mai Lộc 2, xã Cam Lộ, người quản lý khu Di tích quốc gia Thành Tân Sở kể: “Mặc dù thời gian ở lại Tân Sở không lâu nhưng vua Hàm Nghi đã để lại trong lòng dân sự kính trọng. Để giúp vua và đoàn tùy tùng hoạt động cách mạng, người dân nơi đây đã ra sức xây thành, góp lương thực, thực phẩm, nhường nhà cho vua ở và làm việc, tổ chức bảo vệ vua nghiêm ngặt, cùng vua tham gia hoạt động cách mạng”...
![]() |
| Cổng thành Tân Sở tại xã Cam Lộ - Ảnh: X.V |
Trước sự truy đuổi gắt gao của thực dân Pháp, vua cùng đoàn tùy tùng di chuyển ra Hà Tĩnh rồi quay lại huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình (cũ) để xây dựng “kinh đô kháng chiến”. Từ đó, vùng đất Minh Hóa trở thành “đầu não” của phong trào Cần Vương, bảo vệ Sơn triều, vua Hàm Nghi và kháng chiến chống Pháp.
Theo TS. Nguyễn Đức Lý, nguyên Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Bình (cũ), vùng đất Minh Hóa có địa hình hiểm trở, thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ kháng chiến. Địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn nên Pháp muốn đưa quân lên trấn áp sẽ gặp nhiều bất lợi. Từ địa bàn này có thể liên lạc thuận lợi, bí mật với nhiều sĩ phu yêu nước các tỉnh phía Bắc và đông đảo Nhân dân hưởng ứng phong trào Cần Vương”…
Đến đây, vua Hàm Nghi và quan quân triều đình ở các xóm làng của huyện Minh Hóa (cũ) 12 ngày đêm và được các đội quân người địa phương canh gác, bảo vệ nghiêm ngặt.
Ông Đinh Văn Chưu (93 tuổi), ở thôn Ba Nương, xã Minh Hóa, kể: “Những ngày ở trong xã, vua Hàm Nghi cho lập văn phòng để gửi chỉ dụ và tiếp nhận vật phẩm biếu hay các ý kiến của người dân các nơi gửi đến... Với tinh thần trung quân, ái quốc, nhiều người dân làng tôi và các làng lân cận đã mang lương thực, cử người theo nhà vua phục vụ kháng chiến”.
Khi đang ở xã Minh Hóa, vua Hàm Nghi nhận được tin báo thực dân Pháp truy đuổi sắp đến nên đã hành quân thần tốc vào Ma Rai, xã Kim Điền. Đến eo Lập Cập, vua lệnh cho một đội quân tinh nhuệ chủ yếu là người địa phương, được trang bị nỏ và tên độc chốt chặn. Khi thực dân Pháp truy đuổi vua đến đây đã bị quân ta đánh trả quyết liệt. Do thiệt hại quá nặng nề, Pháp buộc phải cho rút quân, bảo vệ sự an toàn cho nhà vua.
Những năm xây dựng “kinh đô kháng chiến” ở khu vực biên giới (1885-1888), vua Hàm Nghi chủ yếu đóng đô ở Ma Rai, Khe Ve. Tại đây, vua và quan quân triều đình được dân làng nhường nhà cho vua làm việc, xây dựng trận địa kháng chiến chống Pháp, phát triển phong trào Cần Vương một cách chủ động. Nghĩa quân các căn cứ địa của ta đã chiến đấu anh dũng, tiêu diệt nhiều quân Pháp, bảo vệ vua Hàm Nghi, phát triển phong trào Cần Vương, kể cả sau khi vua đã bị giặc Pháp bắt.
Liệu có còn kho báu?
Ông Đinh Thanh Dự, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian ở xã Minh Hóa cho rằng, thời điểm ở Ma Rai, Khe Ve, vua Hàm Nghi đã mang theo khá nhiều đài đựng vàng. Trong đó, một lượng lớn vàng được vua cất giấu trong cây Pằn Nàng rỗng ruột bên cạnh khe Dương Cau, thôn Đặng Hóa, xã Kim Điền. Sau trận lũ lớn tháng 8/1956, cây này đổ bật gốc khiến nhiều vàng trôi ra khe suối. Thấy vậy, người dân và chính quyền địa phương đã nhặt rồi nộp lại cho Nhà nước.
![]() |
| Thung lũng Ma Rai, nơi vua Hàm Nghi từng xây dựng dựng “kinh đô kháng chiến” - Ảnh: X.V |
Bà Đinh Thị Bình (90 tuổi) ở thôn Đặng Hóa nhớ lại: “Hồi đó, tôi cũng đã nhặt được 5 chữ vàng rồi đem giao nộp nên được cấp trên thưởng cho một bộ quần áo mới. Tổng cộng số vàng cả xã thu được là 240kg, bỏ đầy 5 cái nong phơi lúa. Đó là những tấm vàng có hình chữ "Đại". Sau khi giao nộp vàng, xã được thưởng 3 con lợn với rất nhiều lúa gạo để ăn mừng. Lễ mừng vàng được tổ chức ngay dưới chân núi Mã Cú. Đêm đó, có rất nhiều người đến ăn uống, hò hát, nhảy múa rất vui vẻ”.
Từ chuyện nhặt được 240kg vàng ở Kim Điền, nhiều người đặt câu hỏi: Liệu có còn kho báu nào của vua Hàm Nghi nữa không? Vì sao hơn 30 năm, ông Nguyễn Hồng Công, một người từ TP. Hồ Chí Minh đã tiêu tốn rất nhiều công sức, tiền của để tìm kho báu với một tấm bản đồ không biết thực hư? Trong suốt thời gian dài đó, ông đã nằm gai nếm mật trên núi Mã Cú để tìm vàng đến khi sức cùng lực kiệt rồi chết (năm 2013) trong lạnh lẽo nhưng vẫn không thấy kho báu.
“Hiện, một số địa phương cũng đã có những công trình thờ tự vua và các trường học, con đường được đặt tên vua. “Kinh đô kháng chiến” của vua Hàm Nghi tại xã Kim Điền đã được UBND tỉnh Quảng Bình (cũ) xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh nên người dân nơi đây rất mong các cấp có thẩm quyền quan tâm, xây dựng các công trình thờ tự vua và những người yêu nước để tri ân, giáo dục truyền thống yêu nước cho các tầng lớp nhân dân”, Bí thư Đảng ủy xã Kim Điền Đinh Thị Thanh Huyền chia sẻ.
Ông Đinh Tiến Hùng (72 tuổi), ở xã Minh Hóa, người có nhiều công trình nghiên cứu về vua Hàm Nghi cho rằng: “Theo tôi, chẳng còn kho báu nào của vua Hàm Nghi ở xã Kim Điền nữa. Tôi nghĩ, bản đồ mà ông Nguyễn Hồng Công có là bản đồ thật, được vẽ ngay tại thời điểm cất giấu vàng. Nhưng bản đồ này chỉ là chiêu bài đánh lừa hậu thế và giặc Pháp của nhà vua. Trước đó, nhiều nhà khoa học cũng đã vào cuộc nghiên cứu và kết luận ở khu vực ông Công đào vàng trên núi Mã Cú không có dấu hiệu đất ở đó bị đào lên rồi lấp lại”.
Một số ý kiến khác lý giải thêm: Trong lúc đang bị giặc Pháp truy đuổi ráo riết như thế, vua và quan quân không đủ thời gian đào cả ngọn núi để chôn vàng. Hành trình của nhà vua từ Huế ra toàn đi bí mật ở địa hình rừng núi hiểm trở nên chuyện mang cả kho báu là điều không thể. Do vậy, trước khi bị bắt, vua quyết định đem toàn bộ số vàng còn lại dấu vào cây Pằn Nàng. Còn chuyện ông Nguyễn Hồng Công suốt đời tìm kiếm vàng có thể là hoang tưởng vì trước đó, ông đã nhiều lần tuyên bố phát hiện ra kho báu nhưng không hề có…
Xuân Vương










