QTO - Trong bối cảnh toàn cầu bước vào cuộc đua phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) với những hàng rào kỹ thuật khắt khe về môi trường, sản xuất nông nghiệp không còn là "bài toán" tăng năng suất, sản lượng thuần túy. Với tiềm năng, lợi thế về phát triển nông, lâm nghiệp cùng lợi thế logistics trên Hành lang kinh tế Đông-Tây (EWEC), tỉnh Quảng Trị đang quyết tâm kiến tạo một chuỗi cung ứng nông nghiệp xanh, tuần hoàn và khép kín nhằm đưa nông sản địa phương vươn tầm quốc tế.
Chuyển dịch tư duy sản xuất
Với hơn 1,13 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp (chiếm 89% diện tích tự nhiên), Quảng Trị có nhiều dư địa để phát triển nông nghiệp xanh, nông nghiệp tuần hoàn.
Mới đây, tại hội nghị chuyên đề về phát triển kinh tế nông nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn và liên kết chuỗi giá trị trên địa bàn tỉnh do UBND tỉnh tổ chức, nhiều chuyên gia đánh giá, nông nghiệp Quảng Trị có lợi thế cạnh tranh mang bản sắc riêng mà không phải địa phương nào cũng có được.
Đó là vùng nguyên liệu đa dạng, quy mô lớn (với hơn 1 triệu tấn sản phẩm nông, lâm, thủy sản/năm; có gần 900 doanh nghiệp và hợp tác xã tham gia vào chuỗi liên kết giá trị; có 63 vùng được cấp mã số vùng trồng với tổng diện tích gần 3.200ha).
Tiềm năng carbon rừng lớn với trên 952.000ha rừng và đất lâm nghiệp; đã chuyển nhượng 3,7 triệu tấn carbon, thu 402 tỉ đồng từ tín chỉ carbon rừng. Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Trị nằm ở vị trí cửa ngõ của EWEC, hạ tầng logistics với hệ thống cảng biển kết nối thuận lợi với Lào, Thái Lan, tiểu vùng Mê Kông.
![]() |
| Mô hình sản xuất lúa hữu cơ liên kết giữa SEPON GROUP với Hợp tác xã Nông nghiệp Thượng Hòa, xã Vĩnh Linh - Ảnh: M.L |
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 xác định nông nghiệp xanh là một trong bốn trụ cột phát triển kinh tế-xã hội cốt lõi của tỉnh. Với mục tiêu chuyển dịch từ tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy sang “kinh tế nông nghiệp” đa giá trị, thời gian qua, tỉnh đã tập trung xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn.
Toàn tỉnh hiện có gần 10.000ha lúa áp dụng quy trình giảm phát thải; gần 1.500ha đạt chứng nhận hữu cơ; 20.710ha sản xuất theo chuỗi liên kết giá trị; 295 sản phẩm OCOP đạt chuẩn còn thời hạn chứng nhận. Bên cạnh đó, một số mô hình liên kết sản xuất nông nghiệp hữu cơ do Tập đoàn Quế Lâm, Công ty CP Tổng Công ty Thương mại Quảng Trị (SEPON GROUP)… dẫn dắt đã và đang tạo động lực lan tỏa tại các địa phương.
Từ sản xuất xanh đến giá trị bền vững
Dù đạt những kết quả tích cực, phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn tại Quảng Trị vẫn đối mặt với nhiều thách thức do sản xuất còn phân tán, tỉ lệ tích tụ đất đai thấp, công nghệ chế biến sâu và hạ tầng logistics sau thu hoạch chưa đồng bộ.
Theo ông Trần Chí Dũng, Phụ trách logistics nông nghiệp, Hiệp hội Logistics Việt Nam, để biến tiềm năng thành giá trị thương mại bền vững, Quảng Trị cần khắc phục hạn chế của chuỗi cung ứng tuyến tính hiện tại. Đó là sản phẩm thiếu dữ liệu truy xuất nguồn gốc trồng trọt, canh tác, thu hoạch; phụ phẩm bị vứt bỏ tạo phát thải thay vì giá trị; chế biến thô dẫn đến nông sản khó vào được các thị trường lớn. Từ thực trạng này, ông Dũng gợi ý lộ trình kiến tạo chuỗi cung ứng, hiện thực hóa cơ hội đưa nông sản Quảng Trị vươn ra thị trường thế giới.
Theo đó, giai đoạn 1 (2026-2027) cần kiến tạo nền móng, tập trung xây dựng hạ tầng dữ liệu xác thực, đồng bộ hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định kết quả hoạt động giảm nhẹ khí nhà kính (MRV) để phát triển kinh tế carbon; mở rộng 63 mã số vùng trồng hiện có; thí điểm thực hiện truy xuất nguồn gốc và xác thực vòng đời toàn diện cho một số sản phẩm chủ lực như cà phê, hồ tiêu và gỗ.
Giai đoạn 2 (2027-2028), mở rộng chuỗi cung ứng thông qua việc kết nối doanh nghiệp (DN), hợp tác xã, hệ thống logistics, kho lạnh vào một nền tảng xác thực dữ liệu chung; tận dụng triệt để phế phẩm, phụ phẩm làm phân bón, năng lượng sinh khối; tối ưu hóa hạ tầng cảng biển thành trung tâm trung chuyển hàng hóa lớn kết nối xuyên biên giới trên EWEC, giúp giảm chi phí logistics cho doanh nghiệp.
Giai đoạn 3 (2028-2030), xây dựng và vận hành đồng bộ hệ sinh thái hoàn chỉnh từ logistics xanh, thị trường tín chỉ carbon, kinh tế tuần hoàn.
Bên cạnh sản xuất, “điểm nghẽn” còn ở khâu tổ chức đưa sản phẩm ra thị trường. Theo ông Đào Anh Tuấn, Phó Giám đốc Sở Công thương, nếu sản xuất xanh là điều kiện cần, thị trường xanh là điều kiện đủ thì liên kết chuỗi chính là chìa khóa. Vì vậy, cần thay đổi tư duy quản trị từ “sản xuất xong mới tìm đầu ra” sang “thị trường đặt hàng-sản xuất đáp ứng-chế biến nâng giá trị-phân phối ổn định”.
Mỗi vùng nguyên liệu cần gắn với một chuỗi giá trị; mỗi sản phẩm chủ lực phải hướng đến một thị trường đích và mỗi chương trình xúc tiến phải tạo ra hợp đồng, doanh số và thu nhập cao hơn. Để làm được điều này, tỉnh cần có cơ chế phát triển thị trường nông sản chủ lực, trong đó ngân sách nhà nước đóng vai trò “vốn mồi”; DN là lực lượng đầu tư, vận hành và phát triển thị trường lâu dài.
Sở Nông nghiệp và Môi trường chịu trách nhiệm về vùng nguyên liệu, quy trình, chất lượng; Sở Công thương bảo đảm thị trường phân phối, thương mại điện tử, xuất khẩu; các địa phương tổ chức sản xuất, kiểm soát vùng nguyên liệu, chủ thể sản xuất còn DN chịu trách nhiệm chế biến, tiêu thụ sản phẩm, duy trì khách hàng…
Có thể nói, từ phát triển vùng nguyên liệu đạt chuẩn giảm phát thải, mở rộng mô hình liên kết sản xuất hữu cơ; việc tìm cách giải “bài toán” về hạ tầng dữ liệu MRV hay tối ưu hóa logistics xuyên biên giới, tỉnh Quảng Trị đang từng bước định hình một hệ sinh thái nông nghiệp tuần hoàn, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản địa phương một cách bền vững.
Lâm Thanh









