QTO - Để khắc phục sự “lệch pha” giữa đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu khoa học (NCKH) với thực tiễn sản xuất, thời gian qua, tỉnh Quảng Trị đã chủ động đổi mới cơ chế đặt hàng nhiệm vụ dựa trên nhu cầu thực tế của các sở, ngành, địa phương. Từ đó từng bước đưa kết quả NCKH thành công cụ đắc lực để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh cho nền kinh tế địa phương.
Đổi mới cơ chế đặt hàng
Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ (KH-CN) Phạm Thanh Nam cho biết: “Điểm mới quan trọng là ngay trong hồ sơ đề xuất đặt hàng, đơn vị thực hiện phải xác định rõ mục tiêu, hiệu quả dự kiến, phương án tổ chức quản lý, khai thác và sử dụng kết quả nghiên cứu; đồng thời xác định cơ quan, tổ chức hoặc doanh nghiệp dự kiến tiếp nhận kết quả sau khi nhiệm vụ hoàn thành. Đây chính là cơ sở để bảo đảm mỗi nhiệm vụ đều có “địa chỉ tiếp nhận” ngay từ khi hình thành ý tưởng, góp phần hạn chế tình trạng đề tài nghiên cứu xong nhưng chậm được ứng dụng vào thực tiễn”.
![]() |
| Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp doanh nghiệp thực hiện đề tài nuôi cá mú Trân Châu trong ao đất bằng thức ăn công nghiệp tại phường Đồng Hới - Ảnh: M.L |
Căn cứ theo Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo năm 2025, Sở KH-CN không triển khai đề tài đơn lẻ mà khuyến khích xây dựng các cụm nhiệm vụ, chuỗi nhiệm vụ liên ngành. Trọng tâm là ưu tiên các lĩnh vực chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và bảo vệ môi trường.
Trong đó, công nghệ sinh học và chế biến nông sản là lĩnh vực có nhiều đề tài nghiên cứu được chuyển hóa thành các giải pháp thiết thực phục vụ sản xuất của người dân. Điển hình như biến phế phụ phẩm nông nghiệp thành phân bón hữu cơ tuần hoàn, sử dụng nấm đối kháng Trichoderma-Pseudomonas phòng bệnh cây trồng; giải pháp vi sinh xử lý ao nuôi tôm, đệm lót sinh học và bổ sung thức ăn chăn nuôi… Quảng Trị cũng đã làm chủ kỹ thuật sinh học phân tử và nuôi cấy mô như quy trình PCR, Real-time PCR, ELISA để chẩn đoán nhanh dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi và kiểm soát chất cấm trong chăn nuôi.
Kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào cũng giúp lưu giữ, bảo tồn và nhân giống hàng loạt cây dược liệu, hoa cao cấp và cây giống lâm nghiệp chất lượng cao. Nhiều công nghệ sấy hiện đại như sấy bơm nhiệt, sấy chân không, sấy vi sóng, sấy thăng hoa và bảo quản lạnh trái vụ… đã được chuyển giao thành công. Các sản phẩm đặc trưng từ dược liệu, hạt sen, khoai deo, hải sản... liên tục được chuẩn hóa bao bì, truy xuất nguồn gốc và nâng cấp đạt tiêu chuẩn OCOP.
Từ mô hình thí nghiệm hướng tới xây dựng vùng nguyên liệu
Từ các kết quả nghiên cứu ở phòng thí nghiệm, mô hình nhỏ, Sở KH-CN đã phối hợp với ngành nông nghiệp và các địa phương chuyển giao công nghệ nhằm xây dựng vùng nguyên liệu sản xuất hàng hóa tập trung cho người dân.
Sự phối hợp này giúp một số nhiệm vụ NCKH được áp dụng hiệu quả trong thực tiễn, như: Hình thành vùng nguyên liệu sạch và chuỗi chế biến các sản phẩm từ lạc tại xã Cam Lộ; vùng đậu đen xanh lòng theo hướng hữu cơ tại xã Ba Lòng gắn với chế biến trà mầm, bột đậu; vùng trồng chuối gắn với cơ sở sấy dẻo, thương mại sản phẩm và xử lý phế phụ phẩm thành phân hữu cơ tại xã Lao Bảo; ứng dụng công nghệ biofloc tại các vùng nuôi tôm trọng điểm; mô hình giống sắn kháng bệnh khảm lá có sự tham gia của đơn vị nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và địa phương; xây dựng vùng giống và áp dụng quy trình chăn nuôi bò thâm canh, bán thâm canh tại các địa phương, trong đó có khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Đối với các chế phẩm vi sinh vật, kết quả nghiên cứu đã được tiếp nhận, sản xuất thành 6 loại chế phẩm và được tỉnh hỗ trợ sản xuất khoảng 30 tấn mỗi năm, phục vụ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và sản xuất hữu cơ.
Hiện nay, Sở KH-CN đang thực hiện một số nhiệm vụ NCKH nhằm mở rộng hướng chế biến sâu và phát triển sản phẩm hàng hóa, như: Chế biến khoai lang với 4 sản phẩm khoai lang sấy dẻo, bột dinh dưỡng hòa tan, mì sợi và bánh phồng tôm kèm quy trình công nghệ, bao bì, tiêu chuẩn cơ sở và mô hình chế biến. Nhiệm vụ chế biến dầu trẩu đang hoàn thiện hệ thống khai thác, ép, lọc, bảo quản và mô hình công suất 3-4 tấn hạt/ngày, hướng tới xây dựng vùng nguyên liệu và phục vụ xuất khẩu.
Trong lĩnh vực bảo tồn nguồn gen, các nhiệm vụ về cá chình mun và cá niên đã tạo nguồn giống, hoàn thiện bước đầu quy trình ương nuôi và tổ chức thả tái tạo nguồn lợi; mô hình nuôi chim trĩ lấy trứng trên vùng đất cát cũng đang được đánh giá để nhân rộng.
Theo ông Nam, các kết quả cho thấy việc chuyển giao chỉ bền vững khi công nghệ phù hợp, có đơn vị tiếp nhận, có địa bàn tổ chức sản xuất, có vùng nguyên liệu và có cơ chế duy trì, hoàn thiện sản phẩm sau khi nhiệm vụ kết thúc.
“Để mô hình có thể mở rộng thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung, sở đặc biệt quan tâm đến sự tham gia của doanh nghiệp và hợp tác xã ngay từ đầu. Đây là lực lượng tổ chức vùng nguyên liệu, kiểm soát quy trình và chất lượng, thu mua, chế biến, xây dựng nhãn hiệu và kết nối thị trường. Nhiệm vụ của ngành KH-CN có vai trò hoàn thiện giống, công nghệ, quy trình sản xuất, xây dựng mô hình ban đầu và chứng minh hiệu quả; ngành nông nghiệp và chính quyền địa phương hỗ trợ tổ chức sản xuất, hướng dẫn kỹ thuật và nhân rộng; doanh nghiệp, hợp tác xã là chủ thể duy trì chuỗi giá trị theo tín hiệu thị trường. Vì vậy, tiêu chí lựa chọn nhiệm vụ ngày càng chú trọng khả năng huy động nguồn lực đối ứng, cam kết tiếp nhận, phương án tiêu thụ và năng lực mở rộng quy mô sau nghiệm thu”, ông Nam cho biết thêm.
Mai Lâm









