QTO - Nghề báo giúp tôi được đặt chân đến nhiều bản làng biên giới Việt-Lào ở tỉnh Quảng Trị để mắt thấy, tai nghe về một tình hữu nghị đặc biệt anh em...
Trước đây, khóm Ka Tăng (còn gọi bản Ka Tăng) thuộc thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, nay thuộc xã Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, nơi người dân sinh sống của bà con dân tộc thiểu số Vân Kiều. Từ khi Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo được nâng cấp, Nhà nước đã có chủ trương tái định cư cho bản Ka Tăng để bà con có được một cuộc sống ổn định hơn, tiếp tục giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ an ninh biên giới...
Đối diện với bản Ka Tăng, bên kia biên giới cách một dòng sông là bản Đen-sa-vẳn thuộc huyện Sê Pôn, tỉnh Sạ-vẳn-na-khệt, Lào. Tháng 4/2005, theo sáng kiến của Bộ đội Biên phòng, được hai nước chấp thuận, Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo đã chính thức tổ chức lễ giao lưu kết nghĩa giữa 2 bản, mở ra một chương mới trong ngoại giao nhân dân. Riêng ở Quảng Trị, các cặp bản ở biên giới Việt -Lào đã lần lượt kết nghĩa...
![]() |
| Giao lưu kết nghĩa giữa hai bản Ka Tăng và Đen-sa-vẳn tháng 6/2026 - Ảnh: P.X.D |
Đầu tháng 8 này, tôi lên lại Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo. Đại úy Hoàng Xuân Toàn thuộc Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo cho biết các cặp bản-bản kết nghĩa thuộc phạm vi đồn quản lý vừa tổ chức giao lưu: Thôn Ka Tăng với bản Đen-sa-vẳn, thôn Duy Tân với bản Phường, thôn Bích La Đông với bản Mỹ Yên, thôn Cổ Thành với bản Ka Túp… Trưởng bản Ka Tăng Hồ Văn Hoan chia sẻ: “Giao lưu vừa qua giữa 2 bản vui lắm, như anh em một nhà”. Trưởng bản Đen-sa-vẳn Kethang Thakhet cho hay, tình nghĩa giữa bà con hai bản rất thắm thiết!
Bên cạnh Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, ở phía Nam Quảng Trị có Cửa khẩu quốc tế La Lay, một vùng biên viễn phên dậu trọng yếu miền Tây của Tổ quốc vẫn đêm ngày bình yên giữa đại ngàn.
La Lay là một bản có đông đồng bào dân tộc thiểu số Pa Kô sinh sống, trước thuộc xã A Ngo, huyện Đakrông, nay thuộc xã La Lay. Tên cửa khẩu quốc tế cũng lấy từ tên bản. Bà con nơi đây sinh sống giữa núi đồi, cư trú hai bên con đường chạy lên cửa khẩu Việt-Lào. Toàn thôn có 70 hộ với hơn 330 nhân khẩu.
Bên cạnh những nóc nhà sàn cổ truyền là những ngôi nhà trệt như đồng bào miền xuôi là hình ảnh pha trộn khi giao lưu văn hóa giữa đồng bằng với vùng cao... Người dân địa phương dẫu có tiếp xúc với thế giới bên ngoài vẫn giữ được căn cốt văn hóa của mình. Đặc biệt, một đặc điểm dễ thấy ở biên cương, đồng bào luôn coi Bộ đội Biên phòng như người nhà của mình.
![]() |
| Bộ đội Biên phòng giúp người dân Lào cách trồng và chăm sóc cây cà phê - Ảnh: P.X.D |
Khi chúng tôi đến thăm già làng Kôn Thương, một bậc cao niên của núi rừng La Lay. Ông kể nhiều chuyện về phong tục tập quán cần phải gìn giữ của miền sơn cước, từ những lễ hội quan trọng liên quan đến sản xuất nông nghiệp vùng cao như lễ hội lúa mới...
Ông cho biết, tình cảm Việt-Lào thắm thiết là một lẽ tự nhiên. “Bản mình với các bản ở Lào tuy là thuộc hai nước khác nhau nhưng qua lại thăm nhau vì có quan hệ họ hàng, quen biết, rồi việc hiếu, việc hỷ đều có nhau cả”, già làng Kôn Thương nói.
Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã La Lay Hồ Chí Cường chia sẻ: Bà con 2 bên biên giới thăm viếng nhau hằng ngày và vào những dịp lễ, Tết. Ví như bà con mình sang chúc Tết Lào thường gọi là Tết té nước theo phong tục của bạn. Tháng 4 vừa rồi chúng tôi qua chung vui với bạn, đó là dịp vui nhất của Lào. Rồi bạn lại sang chúc Tết cổ truyền Việt Nam. Từ đó, càng thêm hiểu nhau, có gì khó khăn cùng nhau tháo gỡ, tình cảm càng thêm gắn bó”.
Đối với trung tá quân y biên phòng Lê Văn Đức dù đã xuất ngũ nhưng vẫn nhớ khôn nguôi những năm tháng công tác ở biên giới Việt Lào. Anh và các đồng nghiệp không chỉ chữa bệnh cho người dân địa phương mà còn tận tâm với những người dân của nước bạn Lào.
Bà Y Rên ở huyện Sa Muồi, tỉnh Sả-lạ-văn (Lào) bị bệnh lao phổi nặng, gia đình khó khăn nên bà không có điều kiện đi bệnh viện điều trị. Biết được hoàn cảnh của bà, anh Đức tham khảo phác đồ điều trị của Bệnh viện Chuyên khoa Lao và bệnh Phổi tỉnh, sau đó kiên trì điều trị lành bệnh cho bà Y Rên.
Còn bà Y Hoàng ở bản A Sóc của huyện Sa Muồi, nước bạn Lào bị viêm loét dạ dày lâu ngày không chữa trị nên bệnh tình càng ngày càng nặng. Khi thăm khám, y sĩ Đức động viên bà cứ tin tưởng vào đội ngũ y, bác sĩ quân y.
Sau hai tháng kiên trì điều trị, bà Y Hoàng đã hoàn toàn bình phục. Y sĩ Đức kể lại: “Khi bà Y Hoàng lành bệnh, người nhà tặng một con bê và buộc phải nhận món quà này vì đó là tấm lòng dân bản Lào biết ơn bộ đội biên phòng Việt Nam đã chữa hết bệnh cho dân bản”.
Thiếu tướng Trần Đình Dũng, nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Bộ đội Biên phòng Việt Nam, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh Quảng Trị - là người đưa sáng kiến kết nghĩa bản với bản hai bên biên giới. Sáng kiến này được triển khai rộng rãi bắt đầu từ tỉnh Quảng Trị và ngày càng phát huy hiệu quả ở những vùng biên viễn.
Theo Thiếu tướng Trần Đình Dũng, biên giới nước ta hầu hết là biên giới mềm, khác với nhiều nước trên thế giới là biên giới cứng, họ có thể rào hàng rào dọc theo biên giới hàng vạn cây số. Còn biên giới của ta là sông, suối, đất liền, rừng núi. Hơn nữa, riêng tuyến Việt-Lào, do đặc điểm lịch sử, có một điều rất đặc biệt là người dân hai bên biên giới có quan hệ mật thiết với nhau, từ lâu đời và qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ lại càng thêm gắn bó. Họ có quan hệ họ hàng, thông gia, bạn bè… nên tuy việc nước, việc quan hệ quốc gia là nói câu chuyện vĩ mô, còn gom lại thì là chuyện hai bản, lại là láng giềng hữu nghị anh em. Nói tình hữu nghị đặc biệt là vì vậy. Cho nên mặc dù biên giới trên hiệp định, cột mốc trên thực địa là rất quan trọng, nhưng biên giới giữa lòng dân mới là yếu tố quyết định. Làm cho dân hiểu, dân gắn kết với vùng biên... là hiện thực hóa chủ trương biên phòng toàn dân, có lực lượng chuyên trách là Bộ đội Biên phòng làm nòng cốt. Đó mới là chuyện của quốc kế dân sinh lâu bền, vững chãi cho biên cương...
Phạm Xuân Dũng










