QTO - “Nếu có kiếp sau, con vẫn xin làm cần vụ cho ba, để hai cha con mình lại cùng nhau ra trận bảo vệ đất nước này!", đó là câu nói nghẹn ngào của đại tá Đào Xuân Kính trước linh cữu đại tá Hoàng Thiện, lúc 8 giờ 15 phút sáng 3/9/2026.
Trong cuộc chiến đấu bảo vệ thị xã Quảng Trị mùa hè năm 1972, binh nhất Đào Xuân Kính là người cần vụ của thiếu tá Hoàng Thiện, Chính ủy Trung đoàn 95, kiêm Bí thư, Trưởng ban cán sự Đảng các lực lượng bảo vệ Thành Cổ-thị xã Quảng Trị. Cuộc phản công Lam Sơn 72 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa bắt đầu từ ngày 28/6/1972, đã dần dần tiến được tới ngoại vi thị xã Quảng Trị. Ngày 22/7, Chính ủy Hoàng Thiện chỉ huy Trung đoàn 95 vượt sông Thạch Hãn vào chốt giữ, bảo vệ thị xã.
![]() |
| Đại tá Đào Xuân Kính (ngoài cùng bên phải) và đại úy Phạm Văn Khành (ngoài cùng bên trái) tại lễ tang Chính ủy Hoàng Thiện - Ảnh: T.T |
Cuộc chiến đấu trở nên cực kỳ ác liệt. Quân lực Việt Nam Cộng hòa có sự yểm trợ tối đa của hỏa lực từ Hạm đội 7 và B-52 của Mỹ, liên tục vây ép vào thị xã. Quân ta chiến đấu vô cùng dũng cảm và thương vong cũng rất lớn. Ban Chỉ huy hỗn hợp đóng trong Thành Cổ Quảng Trị do Chính ủy Hoàng Thiện làm Trưởng ban cán sự Đảng, đã trụ vững suốt gần 2 tháng, từ ngày 22/7-15/9/1972. Trong những ngày chiến đấu ác liệt ấy, chiến sĩ cần vụ Đào Xuân Kính gần như không rời thủ trưởng một bước. Quan hệ giữa chiến sĩ cần vụ và thủ trưởng gắn bó như anh em, chú cháu, rồi dần trở thành như cha con.
Đào Xuân Kính quê ở Nga Sơn, Thanh Hóa, là chàng trai xứ biển tốt nghiệp phổ thông (10/10) xung phong nhập ngũ và trở thành người cần vụ thân thiết của Chính ủy Hoàng Thiện. Cho đến những ngày giữa tháng 9/1972, mưa lớn, lũ lụt, nước sông Thạch Hãn dâng cao, ngăn cản việc tiếp tế lương ăn và đạn dược từ bờ bắc, quân số chiến đấu hao hụt nghiêm trọng. Để tránh cho đơn vị không bị xóa sổ phiên hiệu, bảo toàn lực lượng ít ỏi còn lại, gánh trên vai toàn bộ sức nặng trách nhiệm của cuộc chiến, Chính ủy Hoàng Thiện quyết định cho rút quân khỏi Thành Cổ Quảng Trị.
Không có phương tiện vượt sông, các chỉ huy và chiến sĩ kiệt quệ sau nhiều tuần chiến đấu phải bơi qua sông cuồn cuộn nước. Nhiều người đã nằm lại giữa dòng. Khoảng 3 giờ sáng 16/9/1972, “2 thầy trò” tiếp cận bờ sông. Lúc ấy, Chính ủy Hoàng Thiện, một người con của đất Quảng Hòa, Quảng Trạch, mới giật mình nhớ ra mình không biết bơi. Rất may, người cần vụ Đào Xuân Kính quê xứ biển Nga Sơn rất giỏi bơi lội và có sức khỏe tốt. Nhờ chiếc bao gạo ni lông thổi phồng lên, Kính đã bơi, dìu đẩy thành công thủ trưởng của mình sang bờ bắc sông Thạch Hãn…
![]() |
| Một trận chiến bên trong Thành Cổ Quảng Trị, năm 1972 - Ảnh: TTXVN |
54 năm trôi qua, theo sự sắp xếp của tổ chức và quân đội, 2 thầy trò nhận nhiệm vụ ở các đơn vị mới nhưng tình cảm thiêng liêng ở Trung đoàn 95 (Sư đoàn 325) và đặc biệt là những ngày tháng chiến đấu bảo vệ thị xã Quảng Trị mãi mãi là những kỷ niệm chiến trường thiêng liêng nhất.
Năm 1981, Chính ủy Hoàng Thiện về hưu với quân hàm đại tá. Đào Xuân Kính trải qua nhiều nhiệm vụ mới, được Nhà nước tin cậy phân công làm Chỉ huy trưởng Cơ quan MIA Bộ Quốc phòng, Phó Giám đốc Cơ quan MIA Việt Nam, phối hợp với Hoa Kỳ tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích. Trong mấy chục năm qua, dù bận nhiều công vụ nhưng đại tá Đào Xuân Kính vẫn nhiều lần tranh thủ về Đồng Hới thăm thủ trưởng cũ, tình thầy trò vẫn nguyên vẹn, thắm thiết như xưa.
Sáng sớm ngày 2/9/2026, tại nhà riêng ở phường Đồng Hới, đại tá Hoàng Thiện qua đời lúc 4 giờ 20 phút, hưởng thượng thọ 98 tuổi. Được tin, đại tá Đào Xuân Kính cùng đại úy Phạm Văn Khành, nguyên vệ binh của Chính ủy trong thời gian bảo vệ thị xã, cùng bay vào “chịu tang” thủ trưởng cũ.
Trước linh cữu Chính ủy, đại tá Đào Xuân Kính nghẹn ngào: “Ông ơi, con là Kính đây, hôm nay cùng với Khành là vệ binh của ông vào… tiễn…”. Rồi tới đoạn cuối, bất ngờ Kính đổi cách xưng hô và thốt lên: “Ba ơi, nếu có kiếp sau, con vẫn xin làm cần vụ cho ba, để hai cha con mình lại cùng nhau ra trận bảo vệ đất nước này…”. Kính nghẹn lời nâng cao nén hương trầm…
Còn nhớ câu trong "Bình Ngô đại cáo" của danh nhân Nguyễn Trãi: “Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”. Quân đội ta cho đến nay đã tiến lên chính quy, hiện đại, lấy quân lệnh, kỷ luật và sức mạnh tổ chức làm nền tảng cho sức mạnh chiến đấu. Nhưng truyền thống “Huynh đệ chi binh",“Phụ tử chi binh” (quan với lính như cha với con) từ sâu thẳm lịch sử dựng nước, giữ nước vẫn không phai nhạt. Chính truyền thống ấy tạo nên sức mạnh “bất khả chiến bại” của quân đội ta.
Nguyễn Thế Tường










