QTO - Bằng sự gần dân, hiểu dân và trách nhiệm với cộng đồng, những nữ trưởng thôn ở hai xã miền núi Hướng Hiệp và Lìa đã trở thành nhịp cầu nối liền ý Đảng với lòng dân, góp phần vun đắp khối đại đoàn kết và từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.
Đã 24 năm nay, chị Nguyễn Thị Thu Diệu gắn bó với mảnh đất Hướng Hiệp và có 6 năm đảm nhiệm cương vị Trưởng ban Công tác Mặt trận thôn, Trưởng thôn 1, xã Hướng Hiệp. Thôn 1 (sáp nhập khóm 1, khóm 2, thôn Luồi, thôn Cát) có 449 hộ dân với 40% là đồng bào dân tộc thiểu số Bru-Vân Kiều.
Chị Diệu cho biết, người dân thôn 1 chủ yếu sản xuất nông, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Trên cương vị người đứng đầu, chị đã không quản ngại khó khăn, nỗ lực tuyên truyền, vận động người dân xóa bỏ các hủ tục, thay đổi tập quán canh tác lạc hậu.
Đến nay, đồng bào Bru-Vân Kiều ở thôn 1 đã biết trồng lúa nước, nhưng năng suất lúa chưa cao. Nguyên nhân là việc sản xuất còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, thời tiết; chưa tuân thủ đúng lịch thời vụ; vẫn sử dụng lúa thực phẩm làm giống… Để nâng cao năng suất trên diện tích 16ha lúa nước (ở thôn Luồi cũ), chị Diệu đã lặn lội đến từng nhà để vận động đồng bào dần thay đổi nếp nghĩ, cách làm, mạnh dạn đầu tư, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa nước. Trong việc ma chay, cưới hỏi, chị cũng thường xuyên vận động người dân tổ chức đơn giản hơn để phù hợp với cuộc sống mới.
![]() |
| Chị Nguyễn Thị Thu Diệu, Trưởng thôn 1, xã Hướng Hiệp vận động người dân thay đổi nếp nghĩ, cách làm, xóa bỏ những hủ tục lạc hậu - Ảnh: S.H |
Đến nay, thôn 1 đã có những chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế-xã hội. Người dân đã biết ứng dụng khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ và phát triển kinh tế gia trại. Tỉ lệ hộ nghèo chỉ còn 8,24% (trước đây thôn Luồi, thôn Cát (cũ) có tỉ lệ hộ nghèo là 29,6%). Chị Nguyễn Thị Thu Diệu luôn được người dân ở đây tin tưởng, xem là “đầu tàu” tận tâm, gương mẫu đi đầu trong các phong trào, đóng góp tích cực vào việc xây dựng nông thôn mới.
Thôn A Xing (sáp nhập thôn A Rông, Kỳ Tăng, A Mor, A Máy), xã Lìa, có 511 hộ dân, trong đó khoảng 80% là đồng bào dân tộc Pa Kô. Đến nay, đã có hàng chục hộ vươn lên khá giả nhờ trồng sắn, trồng chuối và trồng rừng; tỉ lệ hộ nghèo của thôn từ 34% năm 2024 xuống còn 30,38%.
Trong hành trình vượt đói nghèo, lạc hậu của bà con ở thôn A Xing, có sự đóng góp quan trọng của Trưởng thôn Hồ Thị Dơ. Gần 10 năm qua, đảm nhiệm các cương vị như Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ (LHPN) xã A Xing (cũ), Phó Chủ tịch Hội LHPN xã Lìa (cũ) và hiện tại là Trưởng thôn A Xing, xã Lìa, chị Hồ Thị Dơ đã đi khắp các bản, làng để vận động người dân xóa bỏ dần các hủ tục là nguyên nhân kéo lùi sự phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.
Chị Hồ Thị Dơ nhớ lại, từ năm 2016, khi đảm nhiệm chức vụ Phó Chủ tịch Hội LHPN xã A Xing (cũ), chị luôn trăn trở về vấn đề tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống. Thực tế, tình trạng này gây ra rất nhiều hệ lụy về lâu dài như thất học, nghèo đói... Cuộc sống của những gia đình tảo hôn gặp không ít khó khăn vì các cặp vợ chồng trẻ chưa có điều kiện phát triển kinh tế. Nhiều đứa trẻ sinh ra do tảo hôn thường còi cọc, suy dinh dưỡng, mắc nhiều bệnh tật.
Trách nhiệm làm cha, làm mẹ sớm đặt lên vai những đôi vợ chồng trẻ “ăn chưa no, lo chưa tới” đã gây nên biết bao vấn đề nhức nhối cho gia đình, xã hội. Vì thế, để hạn chế tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc Pa Kô không phải là câu chuyện “một sớm, một chiều”.
Nhiều cặp đôi chưa đủ tuổi kết hôn vẫn đến xã xin đăng ký, cán bộ kiên trì giải thích, phân tích quy định của pháp luật, các em lắng nghe, gật đầu đồng ý. Thế nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, các em đã lặng lẽ nên duyên, về ở với nhau như vợ chồng. Tìm hiểu mới hay, gia đình hai bên đã mổ bò, lợn, gà làm cỗ mời dân bản đến chung vui, coi như hôn sự đã thành.
Với nhiều gia đình đồng bào Pa Kô còn chật vật mưu sinh, việc áp dụng các hình thức xử phạt vì tảo hôn trên thực tế cũng không hề dễ dàng. Sinh ra và lớn lên ở miền núi, chứng kiến nhiều trường hợp các em lấy chồng, lấy vợ khi mới 15, 16 tuổi, chị Dơ không khỏi trăn trở.
Vì thế, ngoài các buổi họp thôn, chị còn lặn lội tìm đến từng nhà, gặp từng người để kiên trì tuyên truyền về những hệ lụy của tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống. Không chỉ vậy, chị còn đối mặt với “rào cản” khác là những hủ tục, mê tín đã ăn sâu trong đời sống của bà con. Mỗi khi đau ốm, bà con tìm đến thầy mo thay vì trạm y tế. Trong gia đình có người sinh đẻ, họ cũng mời thầy mo về cúng với mong muốn “mẹ tròn, con vuông”…
Trước những tập tục tồn tại từ bao đời, chị Dơ chọn cách vận động bền bỉ “mưa dầm thấm lâu”, từng bước giúp người dân thay đổi nhận thức. Đến nay, tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống ở thôn A Xing cơ bản được xóa bỏ; các biểu hiện mê tín dị đoan cũng từng bước được đẩy lùi.
Chị Diệu, chị Dơ là hai trong số nhiều nữ trưởng thôn trên địa bàn tỉnh đang ngày ngày tận tụy với công việc ở cơ sở. Bằng sự tâm huyết, trách nhiệm và uy tín, họ tích cực tham gia các phong trào thi đua, các cuộc vận động, góp phần vào sự phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời khẳng định vai trò, vị thế của phụ nữ trong công tác lãnh đạo ở cộng đồng.
Sỹ Hoàng









