QTO - Khi Ân chạy về đến nhà thì ngoại đã đi. Tháng tư trải nắng khắp phố. Những ngày mà chân ngoại luôn ruổi rong đây đó tìm mấy chị em đồng đội. Đều đặn. Lặng thầm. Đi rồi về. Và lại xa xăm ánh nhìn. Có lần, Ân ghé đến buổi đêm, chui vào phòng ngoại ngủ, rồi thủ thỉ nói ngoại đừng đi nữa. Hồi lâu, tưởng chừng như Ân đã chìm sâu vào giấc ngủ, ngoại mới trở mình buông lửng câu nói: “Chỉ khi bây già, bây mới hiểu thấu những chuyến đi cạn cùng”.
Rồi ngoại khe khẽ xuống giường, đi xuống nhà dưới, thẫn thờ nhìn ra con rạch thâm u. Rất lâu. Rất khuya. Khi trăng uốn cong hình lưỡi hái vắt mảnh hờ hững giữa thinh không, ngoại mới trở lại giường, kéo cái mền lên đắp cho Ân. Ngoại vuốt mái tóc dài đen óng của Ân.
Ngày đất chuyển mình, ngoại nhìn mấy đứa con, thêm chục đứa cháu đang thấp thỏm mong ngóng cuộc đổi đời, ngoại hỏi Ân có phải ngoại đã già. Người già thường cũ kỹ trong nếp nghĩ, thường chẳng thể theo thời thế biến chuyển rầm rộ. Con cháu cứ mỗi lần về thăm lại dòm dèm câu chuyện đất nhà vườn tược bỏ hoang. Thời này làm gì còn ai để đất không mà trồng cây trái. Lợi có bao nhiêu mà nhọc nhằn thân xác. Một đứa rồi hai, ba và lần lượt chục đứa. Ngoại cho người dò la tính ra miếng đất cũng vài tỉ đồng. Chia cho đám cháu con cũng được khối tiền để chúng tự thân khởi nghiệp.
Ngoại bán đất chia hết cho đám cháu con, phần căn nhà sát rạch ngoại giữ lại, ngoại chẳng quyết nó là của ai. Ai rồi cũng phải giành cho mình một phần nào đó, nhỏ nhoi tí, dẫu chẳng giá trị nhưng đó là thứ khiến họ sống được với phần đời xế tà đường mây này. Người già không sống bằng cao lương mĩ vị hay sâm, yến, thuốc bổ. Cái khiến họ sống vui, sống khỏe, sống thảnh thơi nhất chính là mớ ký ức in hằn trong tâm khảm họ. Ký ức dẫu có khi nhớ quên theo tuổi mòn ngày mỏi nhưng chỉ bấy nhiêu cũng đủ để họ sống. Ngoại cùng mấy bà bạn già mở tiệm bánh bèo bì ngay tại căn nhà ven rạch bà Lụa từ dạo đó.
![]() |
| Minh họa: H.H |
***
Ân chạm mặt chàng trai tóc vàng hoe, nói tiếng Việt lơ lớ vào một buổi hội thảo về đầu tư phát triển thành phố giai đoạn hậu công nghiệp. Nhiều dự án về văn hóa và du lịch được các học giả lẫn nhiều chuyên gia kinh tế trao đổi bằng tham luận. Nhiều công ty đầu tư các mảng dịch vụ cũng trình bày các kế hoạch của mình. Sau hai buổi hội thảo sáng chiều thì tiệc chiêu đãi diễn ra ban đêm. Chàng trai tóc vàng hoe chủ động tìm đến cô để xin một cuộc nói chuyện.
Chàng trai tóc vàng hoe vốn là giám đốc của một dự án phát triển Kinh tế xanh của một tập đoàn đầu tư quốc tế. Nhận thấy cơ hội của vùng đất này nên công ty cử người đến để tìm hiểu. Và anh xung phong. Với anh, mảnh đất này như có một lực hút nào đó đã ăn sâu vào tiềm thức của mình. Anh đến trước thời gian hội thảo để tìm và hiểu. Tìm cho mình một phần đời của sự trở về. Hiểu thêm hai chữ cội nguồn. Anh đưa ly rượu vang đỏ lên môi và nhoẻn miệng cười.
Anh nói chuyện thành phố công nghiệp hiện đại nhưng cần phải giữ gìn những di sản văn hóa. Anh đã đến làng nghề thủ công Tương Bình Hiệp, đã tìm về di tích lịch sử hào hùng Dốc Chùa. Anh đã đứng lặng ở chiến khu Đ. Anh đã lang thang dưới vòm tre xanh mát Phú An. Và anh đã đến tiệm của những bà già bán bánh bèo bì để hiểu thêm một thứ mà lòng mình đang canh cánh. Một món ăn tưởng giản đơn nhưng nó là văn hóa bản địa. Là thứ khiến người ta phải nhớ mãi khi nhắc đến mảnh đất này. Có những thứ theo người ta đi cuối đất cùng trời, khiến người ta thèm thuồng nhất, đôi khi chỉ từ một món ăn.
Cô lặng nghe và chẳng thể xâu chuỗi những dữ kiện của chàng trai tóc vàng hoe này lại được. Trong ánh mắt ngơ ngác của cô, anh nhẹ nhàng ấn vào tay cô một cuốn sổ tay ố vàng. Cuốn sổ tay bắt đầu từ con số 1975. Rồi anh cất bước. Bóng lưng in hằn vào mắt Ân.
Đêm mênh mông. Đêm thức trắng. Đêm vỡ òa. Cô có một đêm đọc trọn vẹn cuốn sổ.
![]() |
| Minh hoạ: H.H |
***
Ân trở về căn nhà bên rạch Bà Lụa một ngày cuối tháng tư, trời bỗng dịu nhẹ sau cơn mưa rào đêm qua. Nay tiệm bánh bèo bì của ngoại không mở cửa bán. Mấy bà già bận làm giỗ chung cho đồng đội. Những cô gái trong đội nữ pháo binh ngày trước đã ngã xuống trong trận rốc-két đêm muộn. Trung đội rút từ cánh rừng ở An Sơn về đến rạch Bà Lụa thì trúng ngay tầm nã đạn, 6 người nằm lại sóng nước xứ này. Có cô chưa tròn mười tám. Ngay cả ngoại cũng bị thương trong trận đó phải về nằm điều trị ở Phân khu 1.
Trong mờ ảo khói nhang, Ân gặp lại chàng trai tóc vàng hoe. Anh cũng đến và loay hoay phụ bàn cúng. Phía ngoài sân nhà đã thấy mấy cậu, mấy dì cùng đám anh em họ của Ân đang sắp xếp đồ ăn, bánh trái. Cái tên nửa Tây, nửa Việt “Thomas Trần” khiến cô bất giác nhớ những dòng nhật ký của ông anh ghi lại trong cuốn sổ cũ ố vàng.
Ông người đất này, mới tròn mười tám đã bị bắt lính. Ông đi, bỏ lại cái nắm tay đầu đời với người con gái chung xóm rạch Bà Lụa năm xưa. Người con gái làm món bánh bèo bì trứ danh đất Thủ. Chiến tuyến chia nửa quê hương. Bắn bên nào cũng là dân mình. Nhưng, lần đó, ông nhắm bắn một tốp chiến sĩ đang lọt vào ổ phục kích thì thấy toàn là nữ. Ông không bóp cò. Ông bị chỉ huy bắt giam một thời gian và điều đi chiến trường Tây Nguyên.
Trong cuộc chiến tháng tư đỏ lửa, ông bị thương khi rút từ trung phần cao nguyên, theo con đường số 7. Ông được đưa về Sài Gòn trị thương. Rồi súng vang khắp bốn ngã đường thành, ông được đồng đội chở thẳng ra cảng, nằm cáng ra tàu hạm đội 7 và bắt đầu cuộc hải trình biệt xứ.
Mấy mươi năm mang trong lòng nỗi niềm ẩn khuất. Ông theo dòng đời lập gia đình và chôn vùi phận mình nơi nghĩa trang xứ lạ. Chỉ đến khi ông mất, đám cháu con mới lục dưới giường ông một chiếc hộp nhỏ. Chiếc hộp đựng duy nhất cuốn nhật kỹ và tấm hình trắng đen chụp với cô bạn thầm thương ngày ấy.
***
Thomas chọn quay về bởi tận cùng cuộc đời ông của anh vẫn luôn thấy mình có tội với quê xứ, có lỗi với người con gái đó và lòng luôn thèm thuồng cái món bánh bèo bì mà ngày nhỏ vẫn thường hay ăn ở chợ Búng. Bao nhiêu năm gá thân mình nơi đất khách, nhớ quê thèm vị khiến ông thắt thẻo tâm can mình bấy nhiêu bận. Trong những dòng cuối cùng của trang nhật ký, ông nắn nót ghi tên người con gái mà mình vẫn dành một vị trí sâu hoắm nơi con tim. Khi Ân đọc đến cái tên, nước mắt nhòe ra. Như một thước phim chầm chậm quay ngược thời gian.
Thomas thắp nén nhang lên bàn thờ, kính cẩn cúi đầu. Tiếng mấy bà già rôm rả kể lại chuyện xưa. Chẳng còn nước mắt để khóc. Hơn 50 năm rồi, tất thảy mọi thứ cũ càng đều có giá trị để đất này nở hoa, để lòng người nở những yêu thương.
Ân dẫn Thomas đi ra phía rạch Bà Lụa. Cô gởi lại anh cuốn tập ố vàng. Trời đứng nắng trưa. Nắng réo rắt những tia vàng hươm như mật ươm lên vùng đất này. Phía trong tiệm bánh bèo bì, mấy bà già mặc bộ bà ba đen, tóc búi thành cục vẫn rổn rảng chuyện những ngày tháng tư xưa cũ. Có lúc họ cười. Có lúc bật khóc. Nắng theo mùa cũng đi qua đất này. Rồi nắng lại về theo tháng tư. Nước theo luồng xuôi ra dòng cái. Rồi cũng len lỏi mà về khúc rạch xưa. Lòng người liệu có như con nắng, có như dòng nước?
Nhưng, có một điều Ân biết chắc chắn, muôn triệu phần số tha hương, vẫn mong mỏi ngày về neo đậu đất quê.
Tống Phước Bảo

