QTO - Không chỉ là một nhà thơ tài hoa, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn được bạn đọc biết đến và tôn vinh như một trong số ít nhà viết ký hàng đầu của Việt Nam. Nhưng còn một Hoàng Phủ văn chương khác khi ông viết nhàn đàm. Chính vì vậy, trong tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường, có hẳn một tập nhàn đàm riêng biệt và trang trọng, không lẫn với ai, cũng không lẫn với bất cứ thể loại văn bút, báo chí nào. Bởi đó là nhàn đàm đích thực, độc đáo theo cách Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Người ta thường cho rằng, nhàn đàm là thể loại viết, trò chuyện (đàm) trong lúc nhàn rỗi, nói những điều nhẹ nhàng, có duyên văn nghệ, thường hiện diện trên mặt báo khi cần. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, dẫu đọc thú vị thì cũng chỉ có tác dụng nhất thời, khó có thể làm nên “thương hiệu” cho nhàn đàm, càng khó làm sáng giá một thể loại báo chí pha lẫn văn chương có sức sống lâu bền.
Bởi lẽ, sau những luận bàn thế sự hay những câu chuyện đời thường, có những tác phẩm vẫn đọng lại trong trí nhớ nhiều người, có thể đọc đi đọc lại nhiều lần. Đó chính là biệt tài biến cái nhất thời thành giá trị bền lâu.
![]() |
| Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường - Ảnh: X.D |
Nói đến nhàn đàm của Hoàng Phủ Ngọc Tường, bạn đọc yêu mến sẽ nhớ đến những bài viết gây ấn tượng, tạo tiếng vang như: Vương triều Nguyễn trên đường phố Huế, Người ham chơi, Miền gái đẹp, Quẻ Vị tế, Đại học chi đạo, Báo Tiếng Dân kiểu mới… Vấn đề, nhân vật được đưa ra có thể không quá quan trọng, không mới, thậm chí nhỏ bé, dễ bị khuất lấp trong muôn vàn điều đáng nói hơn, nhưng qua ngòi bút của ông, tất cả hiện lên với một vẻ khác.
Đó là nhờ cách cảm, cách nghĩ, cách viết mang dấu ấn riêng biệt của tác giả. Không hề "dao to búa lớn", không dông dài (vì đặc trưng đăng báo), nhưng vẫn đủ để mang lại hiểu biết, triết lý, suy nghiệm, cả những kết luận khiến nhiều người đồng điệu, chia sẻ. Đó chính là tài năng tạo nên cái duyên văn bút Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Trong bài viết này, xin chọn và đề cập đến một vài tác phẩm liên quan đến vùng quê Quảng Trị. Trước hết là bài “Suy nghĩ nhân đọc hồi ký Mc Namara”. Nhắc đến cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam, cái tên cần phải nhắc đến trước hết là Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mc Namara, người được xem là "kiến trúc sư" của hàng rào điện tử Mc Namara ở vĩ tuyến 17, điều mà không chỉ người dân Quảng Trị mới biết. Cuốn hồi ký của ông Mc Namara đã được nhiều tướng lĩnh, nhà sử học, nhà báo, nhà văn… đọc và phân tích, tưởng chừng không còn gì mới để nói.
Vậy mà đến nhàn đàm của Hoàng Phủ Ngọc Tường, người đọc vẫn thấy thích thú ngay từ cách đặt vấn đề: “… Điều gây ấn tượng mạnh nhất với tôi, ấy là sự mâu thuẫn đến kỳ quặc trong tư tưởng chỉ đạo chiến tranh của ông Robert Mc Namara. Ở cương vị của người đứng đầu Lầu Năm Góc, ông nhớ lại, ngay từ năm 1963, ông đã kết luận rằng “chúng ta có thể và đáng ra phải rút khỏi chiến tranh Việt Nam”.
Thế nhưng, từ thời kỳ đó cho mãi đến lúc ra đi vào năm 1968, ông vẫn không ngừng làm theo cách nghĩ của ông, rằng: “Đây là một cuộc chiến tranh rất quan trọng và tôi lấy làm hài lòng khi được gắn cùng với nó và tôi sẽ làm bất cứ điều gì để chiến thắng”.
Một cuốn hồi ký chứa đựng mâu thuẫn ngay trong chính tư tưởng người viết thì làm sao có thể thuyết phục người đọc? Tác giả nhàn đàm đã tiếp tục luận giải sắc sảo, thú vị: “Tác phẩm vĩ mô đẻ ra từ đầu óc điện tử của ông ta chính là cái hàng rào Mc Namara, đã bị quân dân Bến Hải đánh tan tành, cuốn theo mô hình thử nghiệm của một “chiến trường điện tử hóa” của người đã thiết kế ra nó. “Với những gì đếm được thì anh phải đếm”, Mc Namara nói thế. Tiếc thay, đối phương của ông ta là một kẻ thù không thể đếm được…”.
Từ đó, nhà văn dẫn lại một cách thuyết phục “Binh thư yếu lược” của anh hùng, thiên tài quân sự Trần Hưng Đạo, nói về sức mạnh của cả dân tộc cùng ra trận, sức mạnh không thể đong đếm và kết lại bằng một nhận định đanh thép: “… Cái đó gọi là nhân trận, hoặc là chiến tranh nhân dân, là sức mạnh đánh giặc giữ nước hàng nghìn năm của người Việt Nam. Làm sao ông Mc Namara có thể đếm được?”.
Nếu tác phẩm trên bàn về chiến tranh từ hồi ký của một nhân vật tầm cỡ đối phương, thì bài “Người kéo cờ” lại là một kỷ niệm cá nhân khi Hiệp định Paris vừa được ký kết. Nhà văn được giao nhiệm vụ treo cờ chào đón các đoàn khách qua vĩ tuyến 17, cầu Hiền Lương. Câu chuyện tưởng chừng đơn giản, nhưng lại chứa đựng những tình huống bất ngờ mà chỉ người trong cuộc mới thấu hiểu: “… Nhiệm vụ của tôi đến đây xem ra hoàn tất nếu không có một sự kiện chết người chợt xảy ra, là gió… Nam! Nói tóm gọn, không có lá cờ nào cỡ gần 100m2 chịu nổi sức hoành hành của gió Lào vào thời điểm này, chỉ trong một buổi sáng, gió đã xé tan của tôi hai lá cờ mà với tôi lúc này quý hơn sinh mạng…”.
Lo sợ cờ rách vì gió quá to, sau khi suy tính, nhà văn nghĩ ra cách: Khi có đoàn khách quan trọng đến thì kéo cờ lên, xong lại kéo xuống liền để bảo vệ lá cờ. Nhưng vẫn chưa yên. Một hôm có đoàn khách quốc tế sắp qua, Hoàng Phủ Ngọc Tường kéo cờ lên đúng lúc gió quá to nên lá cờ chỉ nhích lên từng chút một, dù nhà văn đã gắng hết sức bình sinh vẫn không thể hoàn thành nhiệm vụ. Vào lúc nan giải thì có người tiếp sức kịp thời nên chuyện kéo cờ chào ngoại giao rốt cuộc cũng hanh thông.
Tác giả kể lại: “Tôi quay lại, nhìn vị “ân nhân” đã giúp tôi lúc ngặt nghèo: Một gương mặt vuông, dáng trượng phu, đôi mày rậm, nụ cười nhân hậu dưới chiếc mũ bộ đội bỏ quai vòng xuống cằm. Anh nhìn tôi bằng cái nhìn thật ân cần, nói giọng Nghệ pha Bắc: "Chào anh Hoàng Phủ. Tôi là Nguyễn Minh Châu!". Đúng là Nguyễn Minh Châu của “Dấu chân người lính”…”.
Hai tài năng văn chương Việt Nam, đều ra đi kháng chiếnsống và viết dưới đạn bom, đã tình cờ gặp nhau trong một tình huống đầy bất ngờ như thế, để lại một kỷ niệm khó quên qua trang viết Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Chuyện tưởng chừng không có gì để nói, lại trở thành một câu chuyện đáng nhớ. Đó chính là cái tài của nhàn đàm, biến điều nhỏ bé thành điều đáng suy ngẫm, biến khoảnh khắc thành ký ức lâu bền.
Phạm Xuân Dũng









