Sâu thẳm mạch nguồn Hiếu giang

  • 14:51, 28/03/2026
  • icon facebook
  • icon youtube
  • icon titok

QTO - Hồi còn nhỏ, mỗi lần cùng gia đình ra bến Đuồi-chợ Phiên Cam Lộ, theo thuyền buôn dọc sông Hiếu xuôi xuống hạ lưu đến các bến đò Phú Hội, Hà Tây, An Lợi để về quê nội ở miền biển xã Triệu Vân (bây giờ là xã Nam Cửa Việt), tôi thường hỏi ba tôi rằng có nhiều lựa chọn đường đi về quê, sao lại chọn đi đường sông? Ba tôi chỉ trả lời: Từ quê nội lên nhà tôi ở Cam Lộ đi đường thủy là tiện lợi nhất, vì vùng biển bãi ngang quê tôi ngày ấy chưa có đường giao thông. Lớn lên, đi dọc theo dòng sông, đủ lâu, đủ chậm, tôi mới hiểu vì sao sông Hiếu ở lại trong lòng người.

Sông Hiếu bắt nguồn từ các con suối nhỏ trên địa hình núi rừng sườn đông dãy Trường Sơn, ở cao độ hơn 1.000m dưới chân núi Tá Linh/Voi Mẹp, chảy về phía đông qua vùng đất Cam Lộ, Đông Hà trước khi hợp lưu vào dòng Thạch Hãn, tại ngã ba Gia Độ rồi đổ ra biển Cửa Việt.

So với các con sông khác ở miền Trung, sông Hiếu không dài, không dữ dội. Nhưng trong dòng chảy tưởng như hiền hòa ấy chứa đựng lịch sử vận động không ngừng của một miền đất mở, chứng kiến những cuộc mở cõi, những mùa giao thương sầm uất, những năm tháng chiến tranh khốc liệt và cả những bước chuyển mình mạnh mẽ để thích ứng, hội nhập.

Dòng sông ấy không chỉ chảy qua lịch sử, qua tâm thức cộng đồng, bồi đắp phù sa cho ruộng đồng, mà còn hun đúc nên một vùng văn hóa-lịch sử-kinh tế đặc sắc của tỉnh Quảng Trị.

Sông Hiếu chảy qua xã Hiếu Giang - N.T.H
Sông Hiếu chảy qua xã Hiếu Giang - N.T.H

Trước khi có làng, có chợ, có đường thượng đạo xuyên sơn-tiền thân của Quốc lộ 9 huyết mạch nối với các nước khu vực Đông Nam Á, đã có những nhóm cư dân nguyên thủy cổ tụ cư sinh sống dựa vào dòng nước đầu nguồn Hiếu giang.

Việc các nhà khảo cổ tìm thấy các vỏ ốc biển được coi là loại ốc tiền-một vật trao đổi của cư dân thời tiền sử-ở tầng văn hóa muộn thuộc thời hậu kỳ đá mới trong di chỉ Hang Dơi (Cam Lộ) cho thấy mối quan hệ giao thương đã được thiết lập giữa các nhóm cư dân vùng núi và vùng đồng bằng ven biển theo chiều Đông-Tây trên lưu vực đôi bờ sông Hiếu.

Trước khi thuộc về người Việt, vùng đất đôi bờ sông Hiếu hiện nay là một phần của châu Ô và châu Ma Linh của vương quốc Chămpa.

Từ năm 1069, với chiến dịch chinh phạt của quốc gia Đại Việt đánh vào Chà Bàn, bắt được vua Chăm là Chế Củ, một phần đất nằm phía Bắc sông Hiếu thuộc châu Ma Linh được sáp nhập vào bản đồ nước Đại Việt. Sông Hiếu từ năm 1069-1306 trở thành đường biên giới giữa 2 quốc gia Đại Việt-Chămpa. 

Năm 1306, sau khi Huyền Trân công chúa thành hôn với vua Chăm là Chế Mân với sính lễ là hai châu Ô-Lý, không gian phía Nam sông Hiếu trở thành cương vực của Đại Việt, từ đó, quá trình di dân lập làng của các nhóm cư dân Việt mới chính thức bắt đầu.

Các làng Việt dần thay thế các làng Chăm, người Việt kế thừa, giao lưu, hội nhập với văn hóa Chăm bản địa, biến vùng đất trên lưu vực sông Hiếu trở thành vùng đất mở. Dọc hai bên bờ sông Hiếu hiện nay còn tồn tại khá nhiều hệ thống giếng Chăm và giếng theo kỹ thuật Chăm, khai thác rất tốt mạch nước ngầm, được người dân gìn giữ ở các làng Cam Lộ Thượng, Cam Lộ Hạ, Nghĩa An, Thượng Nghĩa (Đông Hà)… 

Đến thời các chúa Nguyễn, khi vùng đất Thuận-Quảng dần ổn định, sông Hiếu thể hiện rõ vị trí trung tâm giao thương buôn bán sầm uất.

Sông Hiếu qua phường Đông Hà - N.T.H
Sông Hiếu chảy qua phường Đông Hà - N.T.H

Trong hệ thống sông trên địa bàn tỉnh Quảng Trị và cả khu vực miền Trung, Hiếu giang nổi bật bởi yếu tố thương mại, mậu dịch. Trên trục sông Hiếu, từ lâu người Chăm đã mở cửa giao thương với bên ngoài qua cảng Cửa Việt. Trên cơ sở các luồng thương mại và mậu dịch, người Chăm đã thiết lập, người Việt đã tiếp nhận, khai thác hiệu quả để ổn định và nâng cao đời sống, đặc biệt là các thương cảng nằm ở hạ nguồn sông Hiếu như Mai Xá, Phú Hội.

Cùng với đó, các chợ làng, trung tâm thương mại khác như chợ Sòng, chợ Sãi, chợ Phiên… thúc đẩy việc buôn bán, trao đổi theo trục hành lang Đông-Tây với các bộ lạc Lạc Hoàn-Vạn Tượng (Ai Lao/Lào) theo đường thượng đạo và sông Hiếu.

Nhìn từ lịch sử, sông Hiếu luôn gắn liền với đường thượng đạo xuyên sơn-lối mòn và tiền thân của đường 9, đường Xuyên Á ngày nay. Đây là con đường công cụ, đường hương liệu, đường muối theo chiều Đông-Tây đã hình thành từ rất sớm.

Thời các chúa Nguyễn, tuyến đường buôn bán, trao đổi hàng hóa sầm uất nhất ở Quảng Trị là tuyến đường Cửa Việt-Cam Lộ-Ai Lao. Cam Lộ trở thành cửa khẩu quan trọng và chợ Phiên Cam Lộ bên bờ sông Hiếu là trung tâm buôn bán nhộn nhịp nhất trong vùng Tân Bình, Thuận Hóa thời kỳ này.

Nhà bác học Lê Quý Đôn trong “Phủ biên tạp lục” mô tả tuyến đường này như sau: “Xã Cam Lộ, huyện Đăng Xương ở thượng lưu sông Điếu Ngao, dưới thông với Cửa Việt, trên tiếp giáp với các nguồn Sài đất Ai Lao, đường sá của dân Man đều ra từ đấy.

Ở xa thì nước Lạc Hoàn, nước Vạn Tượng, phủ Trấn Ninh, châu Quy Hợp, các bộ lạc Lào đều có đường thông từ đây, rất xung yếu”. Việc buôn bán trao đổi hàng hóa ở Quảng Trị không chỉ dừng lại trong phạm vi nội địa mà còn mở rộng ra cả Đàng Trong, vươn ra Đàng Ngoài và cả các nước trong khu vực như: Ai Lao, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và các nước phương Tây.

Ghe thuyền vào Cửa Việt mang hàng hóa từ vùng biển và các nơi khác dọc theo sông Thạch Hãn, sông Hiếu lên trao đổi với vùng trung du, miền núi; đồng thời thông qua cửa khẩu Ai Lao thu gom hàng từ Lào, từ vùng núi mang về trao đổi với vùng đồng bằng và miền biển, tạo nên luồng buôn chuyến trên bộ, dưới thuyền rất tấp nập.

Các mặt hàng trầm hương, ngà voi, tộc hương, mộc nhĩ, yến sào, quế, sừng tê giác, hồ tiêu, dầu sơn, dầu trẩu, gỗ quý… là đặc sản nổi tiếng trên con đường thương mại và mậu dịch chiều Đông-Tây ở Quảng Trị, được thương khách nước ngoài rất ưa chuộng. Đến thời Nguyễn, với chính sách “bế quan tỏa cảng”, hoạt động thương mại trên sông Hiếu chững lại. Dưới thời Pháp thuộc, cùng với việc mở đường 9 xuyên Đông Dương năm 1920 để khai thác thuộc địa, sông Hiếu trở thành tuyến trung chuyển từ cảng biển Cửa Việt lên nối với đường 9 ở Đông Hà, Cam Lộ.

Ngày nay, hoạt động giao thương trên sông Hiếu không còn phổ biến, nhưng đi dọc bờ sông vẫn còn dấu tích các thương cảng, bến đò phủ màu thời gian. Các địa phương trên tuyến đều đã có đề án, kế hoạch phục dựng lại hoạt động lễ hội gắn với các thương cảng, các chợ lớn dọc hai bên bờ sông Hiếu và sông Thạch Hãn, phục vụ phát triển du lịch trải nghiệm.

Diễn trình lịch sử sông Hiếu đi qua không ít thăng trầm. Từ đường biên giới giữa Đại Việt và Chămpa, đến dấu chân ngàn dặm của công chúa Huyền Trân mở ra châu Ô-Lý, rồi trở thành trục giao thương sầm uất trên bộ, dưới thuyền thời các chúa Nguyễn, sông Hiếu là mạch nguồn kết nối những lớp trầm tích văn hóa-lịch sử, kinh tế, nơi ký ức chảy cùng hiện tại và mở lối cho tương lai của một vùng đất mở cõi. Không chỉ là tuyến giao thương, sông Hiếu còn nhiều lần gắn với những bước ngoặt lớn của lịch sử dân tộc.

Năm 1885, thành Tân Sở, vùng đất Cam Lộ thuộc lưu vực sông Hiếu, được chọn làm kinh đô kháng chiến của vua Hàm Nghi, mở đầu phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp xâm lược. Gần một thế kỷ sau, thành Vĩnh Ninh ở Cam Lộ là nơi đặt trụ sở của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1972-1975), mở ra thời kỳ đấu tranh quyết liệt trên mặt trận ngoại giao với đế quốc Mỹ, đi đến thắng lợi cuối cùng, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước ngày 30/4/1975.

Trải qua nhiều thời đại, ít có vùng đất nào mà tinh thần cách tân, đổi mới luôn thường trực mạnh mẽ như người dân đôi bờ sông Hiếu. Từ những phiên chợ ven sông xưa đến các khu dân cư mới, từ những thuyền buôn đến dòng xe nối dài trên Quốc lộ 9 thời kỳ hội nhập, cho thấy sự tiếp nối của tinh thần giao thương, hội nhập.

Sông Hiếu lặng lẽ chảy qua làng quê, qua đô thị, chảy qua trầm tích lịch sử-văn hóa, mang sứ mệnh kết nối và sản sinh ra những con người khao khát tiếp nhận cái mới, cùng với tư duy đổi mới, năng động, sáng tạo, khát vọng phát triển, tiếp nối xứng đáng với những giá trị lịch sử hun đúc qua bao thế hệ.

Thanh Hải

tin liên quan

Hội thảo 'Kết nối, quảng bá văn hóa, di sản, lịch sử và du lịch'
Hội thảo 'Kết nối, quảng bá văn hóa, di sản, lịch sử và du lịch'
QTO - Chiều 26/3, tại tỉnh Gia Lai, Trung tâm Truyền hình Việt Nam khu vực Miền Trung-Tây Nguyên tổ chức hội thảo “Kết nối, quảng bá văn hóa, di sản, lịch sử và du lịch”.
Khởi quay phim 'Hoàng hậu cuối cùng' về Nam Phương Hoàng hậu
Khởi quay phim 'Hoàng hậu cuối cùng' về Nam Phương Hoàng hậu
Phim thuộc thể loại lịch sử hư cấu, kể về cuộc đời của Nam Phương Hoàng hậu, cuộc hôn nhân không hạnh phúc với vua Bảo Đại và số phận của bà trước những chính biến thời cuộc.
Hoa gạo
Hoa gạo
QTO - Hoa gạo đỏ tháng Ba/ Đường làng đầy sắc đỏ/ Tiếng nô đùa trẻ nhỏ/ Nhặt đầy làn thắm tươi.