QTO - Tôi dám quả quyết rằng, trên đời này, không có tình cảm nào thiêng liêng hơn tình mẫu tử. Đã có vô vàn câu nói thành “điển tích” mẹ của các nhân vật lỗi lạc trên thế giới, tuy nhiên tôi thích câu nói "Bạn có thể không chắc chắn về bất cứ thứ gì trong thế giới hỗn độn và đầy lừa lọc này, trừ tình yêu của mẹ" của nhà văn người Ireland James Joyce.
Nhà thơ, đại tá Nguyễn Hữu Quý mất mẹ lúc mới 12 tuổi “Chúng con mồ côi mẹ/khi vẫn còn trẻ thơ”. Đó là những năm tháng không thể buồn hơn của anh em nhà thơ: "Quang gánh còn đây. Mẹ đã xa rồi/thúng mủng đựng cái nhìn con trống trảng/trong ngôi nhà rất nhiều im lặng/con nhận ra những con số không”.
Tuổi thơ Nguyễn Hữu Quý có nhiều kỷ niệm ấm áp về mẹ. Khi lớn lên đã không còn mẹ, nhưng được nghe kể lại mẹ ông là một cô hàng xén khá duyên dáng, dịu dàng ở chợ Thanh Khê. Những người cùng thế hệ mẹ ông, thường nhắc, đó là người sống có phúc, có đức.
“Một đêm chiến tranh/nhì nhằng ánh chớp/mẹ không đi hết/con đường vào ngõ nhà mình” (Ký ức mẹ). Mẹ nhà thơ Nguyễn Hữu Quý mất vì bom đạn đế quốc Mỹ. Đọc thơ và trường ca của ông, mới hiểu vì sao Nguyễn Hữu Quý lúc nào cũng đượm buồn. Trong nỗi buồn dằng dặc và phi thường ấy, có tủi hờn vì mất mẹ quá sớm, có tình yêu quê hương với nhiều nỗi day dứt khôn nguôi.
Xã Thanh Trạch như bao xã miền Trung nói chung, Quảng Trị nói riêng ở ven biển đều “chang chang cồn cát” (thơ Tố Hữu). “Cát tụ thành cồn/đồng làng ta đẹt bông thắt củ/cát xộn xạo bay vào tận cửa/miếng cơm/lùa nắng chang chang” (Chín cơn mưa và mẹ).
![]() |
| Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý (bên trái) và tác giả - Ảnh: N.Đ.H |
Dòng họ Nguyễn của anh di cư từ Bắc vào Nam, nhiều người dừng lại ở Quảng Trị mà lập nên làng, phát triển đến bây giờ: “Lập xóm dựng làng/lên rừng xuống biển/đẵn gỗ dựng nhà, cuốc đất làm rẫy/cày xới phù sa nặng nhẹ chiêm mùa/cây lúa ngậm phèn, củ khoai nếm mặn/chèo thuyền vượt sông, giong buồm ra biển/tựa rừng, hướng sóng mênh mang” (Chín cơn mưa và mẹ). Từ bao đời nay, tìm kiếm sự sống ở những ngôi làng trên cát, không giản đơn. Có điều, “quê hương mỗi người chỉ một” (thơ Đỗ Trung Quân), Nguyễn Hữu Quý yêu làng như máu thịt. “Đi đâu con cũng mang làng theo/bánh bột lọc, cháo canh mời láng giềng bè bạn” (Chín cơn mưa và mẹ).
Thật thú vị khi đọc “Chín cơn mưa và mẹ” thấy ngôi làng cát trắng ấy, bao hình ảnh thân thương về cây cỏ trong vườn, trong làng hiện lên mồn một. Nguyễn Hữu Quý nâng niu quê nhà từ cỏ cây, hoa lá, giản dị mà chắc nhiều người đã quên. Nuôi lớn anh không chỉ là “cá biển cá đồng/con nục, con trích, con tràu, con diếc”, gạo ruộng, sắn đồi, “hạt thóc mỏng, củ sắn cùi eo ọt”, mà còn có cả những quả ớt mọi mọc trong vườn. "Nuôi lớn con cây ớt mọi đầu vườn/quả bé xíu chỉa lên trời chi chít/có bữa con nghe ông Trời hà thít/vị trần gian cay rựng mặt mày" (Chín cơn mưa và mẹ). Lớn lên giữa thời bom đạn, Nguyễn Hữu Quý như bao thanh niên khác ở làng lên đường nhập ngũ, nối gót cha anh bước vào cuộc trường chinh giải phóng. Vậy nhưng hình ảnh quả ớt mọi, anh không bao giờ quên.
Yêu quê, mọi thứ đều thuộc về máu thịt như thế, lần đầu tôi mới thấy trong một tác phẩm. Nguyễn Hữu Quý tự hào và nâng niu vùng trời ký ức của anh. Quê hương trong anh có vẻ đẹp lãng mạn “Trên trảng cát chim chiền chiện hót/chúng vừa bay ra từ trái tim con/chiếc tổ ấm lót đầy rơm ký ức”. Nhà văn I-li-a Ê-ren-bua có câu nói nổi tiếng: "Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Vôn-ga, con sông Vôn-ga đi ra bể. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc". Đó cũng là nguyên nhân nhà thơ Nguyễn Hữu Quý trung thành với Tổ quốc và lý tưởng mà anh dâng hiến cả cuộc đời mình.
Với nhà thơ, đại tá Nguyễn Hữu Quý, mẹ là quê hương, là nguồn cội bền vững của những đứa con như ông. Nhiều người mẹ trên đất Quảng Trị đã tạc nên tầm vóc lớn lao của người mẹ quê hương. Ông tự hào, có một phần mẹ ông trong bóng hình chung ấy: “Sau lưng núi cao, trước mặt biển sâu/mẹ hát bằng cây, mẹ ru bằng sóng/mẹ mượn đèo Ngang buộc một đầu guốc võng/cột gỗ nhà ta một đầu võng kẽo cà” (Chín cơn mưa và mẹ). Mẹ là “nơi bạn bắt đầu” như ý trong câu nói khác của Mitch Albom - nhà báo, nhà hoạt động nhân đạo nổi tiếng người Mỹ.
“Mẹ” trở thành nhân vật trữ tình, thành đề tài của thi ca, dẫu thành công hay không còn thuộc về tài năng nhà thơ. Trong những nhà thơ đương đại Việt Nam, hiện đang tiếp tục sáng tác, viết về mẹ nhiều nhất, chính là nhà thơ, đại tá Nguyễn Hữu Quý. Ngoài trường ca Chín cơn mưa và mẹ, gồm 9 chương, Nguyễn Hữu Quý còn có tập thơ Đừng kể công cho mẹ, gồm 34 bài thơ. Đấy là chưa kể những bài thơ của ông về mẹ đã in trong các tác phẩm khác và mới đây nhất là Hạ thủy những giấc mơ (thơ và trường ca), NXB Hội Nhà văn năm 2026. “Tôi tin rằng, mẹ tôi sẽ là nguyên mẫu lớn nhất trong những sáng tác của mình dù có thể những trường ca, bài thơ hay truyện ngắn tôi không trực tiếp viết về người”, có lần ông tâm sự.
Tất cả những người yêu văn học nói chung, thơ ca Việt Nam nói riêng, hẳn nhớ đến nhà thơ Đồng Đức Bốn (1948 -2006) từng có hai câu thơ “Trở về với mẹ ta thôi/Lỡ mai chết lại mồ côi dưới mồ” hoặc nhà thơ Nguyễn Duy có hai câu thơ: “Ta đi trọn kiếp con người/Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru".
Nguyễn Hữu Quý cũng có hai câu thơ “Cát đi mãi chẳng thành đường/Tôi đi theo lối mẹ thường hát ru” (Chín cơn mưa và mẹ). “Trong tôi chưa bao giờ mờ phai bóng hình của mẹ”, ông tâm sự. “Chỉ là hai tiếng mẹ ơi/mà theo con cả suốt đời chưa tan”, “Câu thơ con góp cho đời/có tình thương ở trong lời mẹ ru” (Mẹ ơi) là những câu thơ ám ảnh, xác tín tấm lòng ông với mẹ.
Từ đạo hiếu của Nho giáo cho đến các tôn giáo lớn có mặt ở Quảng Trị như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, hình ảnh người mẹ luôn đậm nét, hiện thân của sự hy sinh, tình thương mà tấm lòng đại bi. Thơ Nguyễn Hữu Quý chói sáng hình ảnh Bát Nhã về người mẹ, là chốn bình yên, nơi tâm hồn ông nương tựa, dẫu mẹ đã về miền mây trắng từ lâu. Đó là giá trị thiêng liêng của tình mẫu tử.
Ngô Đức Hành









