QTO - Thị trường carbon, chuyển dịch năng lượng và các cam kết giảm phát thải đang mở ra nhiều cơ hội mới, nhưng cũng đặt Việt Nam trước những vấn đề pháp lý mới. Khi chính sách khí hậu ảnh hưởng đến quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài hoặc giao dịch tín chỉ carbon phát sinh tranh chấp, phán quyết trọng tài nước ngoài sẽ được công nhận và thi hành tại Việt Nam như thế nào? Phóng viên (P.V) Báo và phát thanh, truyền hình Quảng Trị đã có cuộc trao đổi với PGS.TS. Phan Hoài Nam, Phó Trưởng Khoa Luật Quốc tế, Trường đại học Luật TP. Hồ Chí Minh để hiểu rõ hơn vấn đề này.
![]() |
| PGS.TS Phan Hoài Nam - Phó Trưởng Khoa Luật Quốc tế, Trường ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh - Ảnh: H.T |
P.V: Thời gian gần đây, giới trọng tài quốc tế nhắc nhiều đến các vụ kiện liên quan đến chính sách khí hậu và năng lượng. Vì sao chủ đề này đáng quan tâm với Việt Nam?
PGS.TS. Phan Hoài Nam: Việt Nam đang đứng trước hai yêu cầu cần được cân bằng: Đẩy nhanh chuyển dịch xanh và duy trì một môi trường đầu tư ổn định, có khả năng dự báo.
Một mặt, Việt Nam đang thực hiện các cam kết khí hậu ngày càng mạnh mẽ. Tại COP26, Thủ tướng Chính phủ tuyên bố mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Khung pháp lý cũng đang được hoàn thiện, từ Điều 139 Luật Bảo vệ môi trường 2020 đến các quy định mới về sàn giao dịch carbon trong nước và trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải, đáng chú ý là Nghị định số 29/2026/NĐ-CP và Nghị định số 112/2026/NĐ-CP.
Mặt khác, chính sách khí hậu và năng lượng có thể tác động trực tiếp đến lợi ích của nhà đầu tư và làm phát sinh tranh chấp. Bài học từ Tây Ban Nha cho thấy, sau khi điều chỉnh cơ chế hỗ trợ năng lượng tái tạo trong giai đoạn 2010-2013, quốc gia này đã phải đối mặt với hàng chục vụ kiện đầu tư quốc tế tại nhiều cơ chế trọng tài khác nhau.
Ở bình diện thương mại, tranh chấp có thể phát sinh từ hợp đồng thẩm định, đăng ký hoặc chuyển nhượng tín chỉ carbon, cũng như từ các cam kết "xanh" thiếu trung thực. Những tranh chấp này có thể được giải quyết tại ICC, LCIA hoặc bằng trọng tài vụ việc theo Quy tắc UNCITRAL. Nếu phán quyết được tuyên ở nước ngoài và bên thắng yêu cầu thi hành tại Việt Nam, Tòa án Việt Nam sẽ xem xét theo Công ước New York và pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Vì vậy, vấn đề cần đặt ra không phải là chính sách khí hậu tự thân có phải là một nguyên tắc cơ bản hay không, mà là trong trường hợp nào hậu quả của việc thi hành một phán quyết cụ thể có thể xung đột nghiêm trọng với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
P.V: Vấn đề này có ý nghĩa như thế nào khi thị trường carbon và các cơ chế chuyển giao tín chỉ carbon xuyên biên giới đang từng bước được hình thành?
PGS.TS. Phan Hoài Nam: Đây là vấn đề cấp thiết bởi khi thị trường carbon và hoạt động chuyển giao xuyên biên giới phát triển, tranh chấp có thể phát sinh về chất lượng và quyền sở hữu tín chỉ, kết quả thẩm định, nghĩa vụ thanh toán, điều kiện cấp phép chuyển giao hoặc nguy cơ tính trùng.
Tính trùng (double counting) có thể hiểu đơn giản là cùng một kết quả giảm phát thải nhưng được cả quốc gia chuyển giao và quốc gia tiếp nhận tính vào mục tiêu khí hậu của mình. Vì vậy, việc chuyển giao giữa các quốc gia đòi hỏi cơ chế cấp phép, hạch toán chặt chẽ và điều chỉnh tương ứng theo Điều 6.2 Thỏa thuận Paris cùng các hướng dẫn thực thi liên quan.
Nếu tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài và phán quyết sau đó được yêu cầu thi hành tại Việt Nam, câu hỏi khó là phải xử lý thế nào khi hậu quả thi hành có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống hạch toán carbon hoặc nghĩa vụ khí hậu của Việt Nam. Đây chính là điểm dẫn đến ngoại lệ tại Điều V(2)(b) Công ước New York.
P.V: Theo chuyên gia, Điều V(2)(b) của Công ước New York 1958có thể được giải thích như thế nào?
PGS.TS. Phan Hoài Nam: Công ước New York 1958 là nền tảng pháp lý quan trọng cho việc công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài. Việt Nam gia nhập công ước năm 1995 và hiện công ước có 172 quốc gia thành viên.
Điều V(2)(b) công ước cho phép Tòa án từ chối công nhận và thi hành nếu việc đó trái với chính sách công của quốc gia nơi được yêu cầu thi hành. Trong pháp luật Việt Nam, căn cứ này được thể hiện tại điểm b, khoản 2, Điều 459 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 bằng khái niệm “các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”.
Điểm quan trọng là ngoại lệ này phải được hiểu và áp dụng một cách hạn chế. Nó không cho phép Tòa án xét xử lại nội dung vụ tranh chấp chỉ vì cho rằng hội đồng trọng tài đã áp dụng sai pháp luật. Những trường hợp như hối lộ, gian lận hoặc xung đột trực tiếp với các nguyên tắc pháp lý cốt lõi mới có thể đặt ra vấn đề về chính sách công.
Trong lĩnh vực carbon, không phải mọi vi phạm quy định về khí hậu đều đủ để từ chối thi hành phán quyết. Vấn đề cần xem xét là hậu quả của việc thi hành có xung đột trực tiếp và nghiêm trọng với một quy định môi trường mang tính nền tảng, chẳng hạn làm suy giảm tính chính xác của hệ thống hạch toán carbon hoặc dẫn đến tính trùng kết quả giảm phát thải, hay không.
P.V: Chuyên gia có đề xuất giải pháp gì và điều này có ý nghĩa thực tiễn ra sao đối với Việt Nam?
PGS.TS. Phan Hoài Nam: Chúng tôi đề xuất một khung phân tích về tính toàn vẹn khí hậu (climate integrity test). Đây là đề xuất nghiên cứu của nhóm tác giả, chưa phải tiêu chí đã được pháp luật hoặc Tòa án chính thức thừa nhận. Khung này gồm bốn điều kiện cần được xem xét đồng thời khi đánh giá căn cứ từ chối công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài.
Thứ nhất, quy định khí hậu được viện dẫn phải có hiệu lực pháp lý ràng buộc và mang tính nền tảng, không chỉ là chính sách khuyến khích hoặc định hướng chung.
Thứ hai, hậu quả của việc thi hành phán quyết phải xung đột trực tiếp, rõ ràng với quy định đó, chứ không chỉ xuất phát từ việc hội đồng trọng tài áp dụng sai pháp luật. Ngoại lệ chính sách công không phải là cơ chế để phúc thẩm nội dung phán quyết.
Thứ ba, xung đột phải đủ nghiêm trọng, gây tổn hại thực sự đến một nghĩa vụ khí hậu cụ thể hoặc tính chính xác của hệ thống hạch toán carbon quốc gia.
Thứ tư, việc từ chối công nhận và thi hành phải cần thiết và tương xứng, nghĩa là không còn biện pháp ít can thiệp hơn để bảo vệ lợi ích công cộng liên quan.
Về thực tiễn, khung phân tích này trước hết giúp Tòa án xác định trường hợp nào thực sự đạt đến ngưỡng từ chối thi hành, đồng thời hạn chế nguy cơ lạm dụng ngoại lệ chính sách công. Đối với cơ quan quản lý và doanh nghiệp, khung này giúp nhận diện sớm rủi ro khi thiết kế cơ chế chuyển giao, soạn thảo hợp đồng và thực hiện giao dịch về năng lượng hoặc tín chỉ carbon. Điều quan trọng là vừa bảo vệ tính toàn vẹn của chính sách khí hậu, vừa duy trì niềm tin của nhà đầu tư vào khả năng dự báo và thực thi pháp luật tại Việt Nam.
Trường đại học Luật TP. Hồ Chí Minh và Trung tâm Luật quốc tế, Đại học Quốc gia Singapore tổ chức hội thảo quốc tế về biến đổi khí hậu thảo luận các chủ đề, đưa ra các giải pháp, trong đó có giải pháp kinh tế để chống biến đổi khí hậu trong khu vực ASEAN và Việt Nam ngày 30/10/2026.
Thông tin đăng ký tham dự: https://conference.hcmulaw.edu.vn/accc5
Hoài Thương (thực hiện)









