QTO - Thời gian qua, nguồn kinh phí từ chương trình chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung bộ (ERPA) đã trở thành nguồn lực quan trọng, tiếp sức cho công tác quản lý, bảo vệ rừng (BVR). Không chỉ hỗ trợ hoạt động tuần tra BVR, nguồn thu này còn góp phần cải thiện sinh kế, nâng cao đời sống Nhân dân, từng bước gắn trách nhiệm BVR với lợi ích thiết thực của cộng đồng.
Tại cộng đồng dân cư Tà Lao, xã Đakrông, công tác BVR được tổ chức thông qua tổ BVR cộng đồng với 10 thành viên. Những năm qua, các thành viên trong tổ thường xuyên thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm tra hiện trạng rừng, kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi xâm hại tài nguyên rừng.
Tổ trưởng Tổ BVR cộng đồng dân cư Tà Lao Lê Thị Hải Tăng cho biết, tổ hiện nhận khoán bảo vệ 764,32ha rừng tại các tiểu khu 721 và 723A. Trước đây, việc giữ rừng chủ yếu dựa vào tinh thần tự giác, trách nhiệm của cộng đồng, nguồn kinh phí hỗ trợ khá khiêm tốn. Trong khi, nhiều hộ dân sống ven rừng gặp khó khăn về sinh kế, đời sống chủ yếu phụ thuộc vào tài nguyên rừng. Vì vậy, việc vừa tham gia BVR, vừa bảo đảm thu nhập cho gia đình là bài toán không dễ giải quyết.
![]() |
| Các thành viên tổ bảo vệ rừng cộng đồng dân cư Tà Lao, xã Đakrông tuần tra, kiểm tra diện tích rừng được giao khoán - Ảnh: L.A |
Từ năm 2023 đến nay, thông qua chương trình ERPA, cộng đồng dân cư Tà Lao đã có thêm nguồn thu đáng kể. Chỉ tính riêng năm 2026, thôn được nhận hơn 917 triệu đồng tiền khoán BVR. Nguồn kinh phí này được sử dụng để chi trả tiền công cho các thành viên tham gia tuần tra, BVR; phần còn lại được phân chia cho các hộ dân trong thôn theo phương án của cộng đồng.
Bên cạnh đó, từ chương trình ERPA, thôn còn được hỗ trợ 50 triệu đồng/năm để thực hiện các hoạt động phát triển sinh kế, cải thiện điều kiện sống. Đơn cử như công trình điện chiếu sáng đường quê được triển khai, hoàn thành và đưa vào sử dụng trong năm 2025 đã góp phần tạo thuận lợi cho việc đi lại, sinh hoạt của người dân. “Đây là nguồn hỗ trợ thiết thực, góp phần duy trì hoạt động tuần tra, BVR và tạo thêm thu nhập cho những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ”, chị Tăng cho hay.
Tà Lao chỉ là một trong số hàng chục cộng đồng, thôn bản nhận khoán BVR từ Ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Quảng Trị được thụ hưởng nguồn thu từ chương trình ERPA hay còn gọi là thí điểm bán tín chỉ carbon. Nguồn thu này đã giúp người dân sống gần rừng có thêm sinh kế, ổn định cuộc sống và tham gia tích cực vào công tác BVR.
Đặc biệt, việc hỗ trợ các mô hình sinh kế, công trình dân sinh từ nguồn thu này đã mang lại lợi ích cho cả cộng đồng, kể cả những hộ không trực tiếp tham gia tuần tra. Qua đó, người dân nhận thấy giá trị của rừng không chỉ nằm ở những sản vật có thể khai thác mà còn ở các nguồn lợi lâu dài có được từ việc gìn giữ, BVR.
Phó Giám đốc Ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Quảng Trị Hoàng Văn Chiến cho biết, đơn vị hiện quản lý hơn 66.145ha rừng và đất lâm nghiệp, gồm Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông, Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa và Khu bảo vệ cảnh quan đường Hồ Chí Minh. Đây là những khu vực có giá trị đa dạng sinh học cao, giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường sinh thái.
Tuy nhiên, với diện tích quản lý lớn, địa hình phức tạp, công tác quản lý, BVR cũng đối mặt với không ít khó khăn, đòi hỏi sự tham gia tích cực của chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư. Trong điều kiện nguồn lực dành cho công tác BVR còn hạn chế, việc triển khai chương trình ERPA đã góp phần bổ sung nguồn kinh phí đáng kể, giúp đơn vị có thêm điều kiện thực hiện các nhiệm vụ quản lý, BVR, đồng thời hỗ trợ các cộng đồng dân cư sống gần rừng phát triển sinh kế.
Ông Chiến cho biết, từ năm 2023-2026, đơn vị đã tiếp nhận tổng cộng hơn 29,147 tỉ đồng từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Quảng Trị để triển khai chương trình ERPA. Tính đến cuối tháng 9/2026, tổng kinh phí đã giải ngân đạt hơn 21,159 tỉ đồng, tương đương khoảng 72,6% nguồn vốn tiếp nhận. Trong đó, kinh phí khoán BVR và hỗ trợ phát triển sinh kế chiếm tỉ trọng lớn nhất, với hơn 18,705 tỉ đồng; kinh phí quản lý hơn 2,314 tỉ đồng; kinh phí hỗ trợ UBND các xã có cộng đồng tham gia thỏa thuận quản lý rừng, hỗ trợ phát triển sinh kế gần 140 triệu đồng.
Theo đó, bên cạnh hoạt động giao khoán BVR, Ban Quản lý còn triển khai các hoạt động hỗ trợ phát triển sinh kế, tập trung vào sản xuất, chăn nuôi, xây dựng và cải thiện các công trình dân sinh phục vụ đời sống cộng đồng. Bên cạnh đó, việc hỗ trợ các xã có cộng đồng tham gia thỏa thuận quản lý rừng đã tăng cường sự phối hợp giữa chính quyền địa phương, đơn vị chủ rừng và người dân. Qua đó, công tác BVR từng bước được thực hiện theo hướng gắn trách nhiệm của các bên với quyền lợi thiết thực của cộng đồng.
“Có thêm thu nhập từ chương trình ERPA, các thành viên tổ quản lý BVR có trách nhiệm, ý thức hơn, dành nhiều tâm huyết, thời gian hơn trong việc tuần tra. Người dân trong các thôn cũng rất phấn khởi vì được hưởng lợi một phần từ nguồn thu này nên cũng tích cực chung tay BVR”, ông Chiến khẳng định.
Theo ông Chiến, từ thực tế triển khai có thể thấy chương trình ERPA không chỉ bổ sung nguồn lực cho công tác quản lý, BVR mà còn tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức, trách nhiệm của người dân. Khi được trực tiếp hưởng lợi từ những cánh rừng mình gìn giữ, cộng đồng có thêm động lực để chung tay bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Để tiếp tục phát huy hiệu quả chương trình, Ban Quản lý rừng đặc dụng Nam Quảng Trị đang tập trung triển khai các nội dung đã được phê duyệt, phấn đấu hoàn thành giải ngân nguồn kinh phí còn lại trước ngày 31/12/2026 theo quy định.
Cùng với đó, đơn vị tiếp tục chú trọng các hoạt động hỗ trợ phát triển sinh kế phù hợp với nhu cầu thực tế của cộng đồng, giúp người dân cải thiện thu nhập, ổn định cuộc sống. Qua đó, từng bước gắn lợi ích kinh tế với trách nhiệm giữ rừng, phát huy vai trò của cộng đồng trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Lê An









