QTO - Thay vì những chuyến biển phụ thuộc nhiều vào sức người, thời gian qua, ngư dân các địa phương ven biển đang từng bước ứng dụng máy móc, trang thiết bị hiện đại vào khai thác và bảo quản hải sản. Qua đó giảm sức lao động và nâng cao hiệu quả kinh tế từ những chuyến vươn khơi.
Sau nhiều chuyến biển đưa hệ thống thiết bị mới vào sử dụng, ông Trần Văn Hải (thuyền trưởng tàu cá QT 90109TS), ở thôn Long Hà An, xã Cửa Việt cảm nhận rõ nhất là công việc của thuyền viên đã nhẹ nhàng hơn trước. Ông Hải cho biết, tàu cá của ông làm nghề lưới rê hỗn hợp, vốn là nghề đòi hỏi nhiều lao động, nhất là ở khâu thu, thả lưới. Trước đây, phần lớn công việc được thực hiện thủ công, từ bốc lưới dưới hầm lên boong đến thu lưới, xếp lưới.
Năm 2026, ông được Trung tâm Nghiên cứu hải sản phía Bắc, Viện Khoa học thủy sản Việt Nam hỗ trợ lắp đặt đồng bộ máy lái tự động, hệ thống nâng hạ lưới và tời thủy lực thu lưới. Theo ông Hải, ban đầu các thuyền viên còn có phần bỡ ngỡ nhưng chỉ sau một thời gian vận hành đã quen với thiết bị. Trong đó, hiệu quả dễ nhận thấy nhất là ở hệ thống tời thu lưới. Máy hoạt động ổn định, lực kéo khỏe hơn nên quá trình đưa lưới lên tàu nhanh, thuyền viên không phải dùng quá nhiều sức như trước.
“Dàn máy cuốn vận hành ổn định, cuốn lưới rất tốt. Cùng với máy lái tự động và hệ thống nâng hạ, công việc trên tàu thuận lợi hơn nhiều. Với những người đi biển như chúng tôi, có máy móc hỗ trợ được như vậy là rất phấn khởi”, ông Hải nói.
![]() |
| Lắp đặt máy lái tự động trên tàu cá QT 90109TS của ông Trần Văn Hải - Ảnh: L.A |
Theo ông Nguyễn Thành Công, cán bộ Trung tâm Nghiên cứu hải sản phía Bắc, nghề lưới rê hỗn hợp có khối lượng ngư cụ rất lớn. Bình quân một tàu cá mang theo khoảng 200-250 cheo lưới, mỗi cheo nặng 75-80kg, tương đương tổng khối lượng vàng lưới khoảng 15-20 tấn. Với cách khai thác truyền thống, mỗi tàu thường cần từ 9-12 lao động để đảm đương các công việc trên biển.
Trong đó, nặng nhọc nhất là quá trình thu, thả lưới. Khi lượng lưới trong hầm còn khoảng 1/3 đến một nửa, thuyền viên phải dùng sức bốc lưới lên boong để tiếp tục thả. Trong khi đó, khoảng cách từ đáy hầm đến mặt boong thường từ 2-2,5m. Giữa điều kiện tàu liên tục rung lắc, công việc này không chỉ tốn sức mà còn tiềm ẩn nguy cơ tai nạn lao động.
Để hạn chế những bất cập đó, đơn vị đã nghiên cứu, xây dựng đồng bộ hệ thống thiết bị từ máy lái tự động giúp điều khiển tàu, hệ thống nâng hạ đưa lưới từ hầm tàu lên boong và cải tiến tời thủy lực từ dạng tang kẹp sang tang quấn. Theo ông Công, hệ thống được xây dựng với mục tiêu giảm khoảng 20% số lao động, tăng 20% năng suất lao động và nâng hiệu quả kinh tế từ 7% trở lên. Qua thực tế sử dụng, các thiết bị đã giúp giảm đáng kể sức lao động, rút ngắn thời gian thao tác và nâng mức độ an toàn cho thuyền viên.
“Trước đây ngư dân phải xuống hầm bốc lưới lên boong, công đoạn này rất nặng nhọc và nguy hiểm. Có trường hợp trong lúc thao tác bị vướng vào lưới, gây chấn thương ở tay, chân. Khi có hệ thống nâng hạ thì công việc đó giảm đi rất nhiều. Bên cạnh đó, máy tời có tốc độ và lực kéo tốt hơn cũng giúp rút ngắn thời gian thu lưới, giảm số người phải cùng tham gia”, ông Công cho hay.
Không chỉ những tàu cá được hỗ trợ từ các mô hình, nhiều ngư dân còn chủ động bỏ vốn đầu tư thiết bị sau khi thấy được hiệu quả mà công nghệ mang lại. Anh Bùi Văn Quý (chủ tàu cá QT 96688TS công suất 780 CV) ở xã Cửa Việt cho biết, tàu cá của anh làm nghề lưới vây, thường xuyên khai thác xa bờ. Để tiết kiệm nhiên liệu, bảo đảm sức khỏe cho người lái, sau khi tìm hiểu anh đã quyết định lắp đặt máy lái tự động hiệu AP 200 của Công ty CP Thiết bị hàng hải MECOM cho tàu cá của mình.
Theo anh Quý, trước đây, với quãng đường khoảng 200 hải lý từ bờ ra ngư trường, tàu cá của anh mất khoảng 32 giờ. Trong suốt hành trình, người lái phải thường xuyên điều chỉnh bánh lái để giữ đúng hướng. Từ khi có máy lái tự động, anh chỉ cần cài hướng hoặc điểm đến, thiết bị sẽ tự điều chỉnh để tàu bám theo hành trình đã chọn. Thời gian di chuyển cũng rút ngắn còn khoảng 27 giờ.
“Tàu chạy thẳng theo lộ trình cài đặt sẵn nên tiết kiệm được một lượng dầu không nhỏ, người lái cũng đỡ vất vả hơn”, anh Quý khẳng định.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hữu Vinh cho hay, những năm gần đây ngư dân đã mạnh dạn đầu tư máy định vị vệ tinh, máy dò đứng, dò ngang, dò chụp, ra đa, thiết bị nhận dạng tự động AIS, đèn LED, tời thủy lực, máy lái tự động và các công nghệ bảo quản sau thu hoạch. Qua thực tế đánh bắt, các tiến bộ kỹ thuật này đã góp phần tăng sản lượng, giảm chi phí nhiên liệu, nâng chất lượng hải sản và hạn chế tổn thất sau thu hoạch.
Trong điều kiện lao động nghề biển ngày càng khó khăn, chi phí mỗi chuyến biển lớn, việc đẩy mạnh cơ giới hóa là hướng đi cần thiết để duy trì hiệu quả sản xuất. Tuy nhiên, đầu tư công nghệ cần phù hợp với từng loại tàu, nghề khai thác và khả năng của ngư dân, tránh tình trạng trang bị nhưng khai thác không hết hiệu quả. Cùng với máy móc phục vụ đánh bắt, các giải pháp bảo quản sau thu hoạch cũng cần được quan tâm để giữ chất lượng, nâng giá trị sản phẩm.
Theo ông Vinh, trở ngại lớn vẫn là chi phí đầu tư ban đầu khá cao, trong khi khả năng tài chính và mức độ tiếp cận công nghệ của ngư dân chưa đồng đều. Do vậy, cùng với nhân rộng những mô hình đã chứng minh hiệu quả, thời gian tới, ngành Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục chỉ đạo các cơ quan chuyên môn trong việc tăng cường hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật; tạo điều kiện để ngư dân tiếp cận chính sách, nguồn vốn; đồng thời đẩy mạnh đầu tư hạ tầng nghề cá và ứng dụng công nghệ trong khai thác, bảo quản, truy xuất nguồn gốc sản phẩm.
Lê An









