Phát triển bền vững nghề nuôi trồng thủy sản

  • 14:14, 14/08/2026
  • icon facebook
  • icon youtube
  • icon titok

QTO - Những năm gần đây, người dân thôn Cồn Sẻ, xã Nam Gianh đã đẩy mạnh phát triển nghề nuôi trồng thủy sản, mạnh dạn đưa nhiều loại thủy sản có giá trị kinh tế cao vào nuôi trồng, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương, cải thiện đời sống cho người dân.

Đổi thay nhờ nuôi cá lồng

Nghề đánh bắt thủy sản trên sông ở thôn Cồn Sẻ đã có từ hàng chục năm trước nhưng nghề nuôi cá lồng trên sông thì mới bắt đầu từ năm 2011.

Theo Trưởng thôn Cồn Sẻ Nguyễn Cương, ban đầu, chỉ một vài hộ mạnh dạn thử nghiệm nuôi cá lồng trên sông. Thấy cá lớn nhanh, thịt thơm ngon, hiệu quả kinh tế vượt trội, nhiều hộ dân khác trong thôn đã nhanh chóng học tập làm theo. Đến nay, toàn thôn đã có 40 hộ tham gia nuôi cá lồng trên sông. Nhờ nuôi trồng thủy sản mà đời sống của người dân cải thiện đáng kể, thu nhập bình quân từ 50-150 triệu đồng/hộ nuôi/năm. Nhiều gia đình không chỉ thoát nghèo mà còn vươn lên làm giàu.

Phần lớn người dân ở thôn Cồn Sẻ nuôi cá lồng trên sông theo mùa vụ. Người dân thả nuôi vụ mới sau Tết âm lịch và sẽ thu hoạch dần từ tháng 8 hàng năm. “Quy tắc nằm lòng” của người nuôi nơi đây là phải hoàn thành thu hoạch trước khi mùa mưa lũ đổ về nhằm tránh rủi ro do bị cuốn trôi, thất thoát. Ngay khi thu hoạch xong, các lồng bè kéo về khu vực tránh trú quy định để nhường không gian cho các hộ nuôi thâm canh an toàn vượt lũ.

Mô hình nuôi cá lồng trên sông của gia đình anh Mai Tuyến, thôn Cồn Sẻ mang lại hiệu quả kinh tế cao - Ảnh: L.Lan
Mô hình nuôi cá lồng trên sông của gia đình anh Mai Tuyến, thôn Cồn Sẻ mang lại hiệu quả kinh tế cao - Ảnh: L.Lan

Ông Mai Lưu, thôn Cồn Sẻ cho biết, gia đình ông đang nuôi 6 lồng với hơn 1.000 con cá chẽm và hơn 500 con cá dìa, cá nâu… Mỗi năm, sau khi trừ chi phí, gia đình ông thu về hơn 70 triệu đồng. Cá lồng nuôi trên sông ở thôn Cồn Sẻ được đánh giá là ngon hơn cá nuôi ở những nơi khác nên được người dân rất ưa chuộng. 

Theo kinh nghiệm của các hộ dân, nuôi cá lồng trên sông có những ưu thế nổi trội hơn nuôi trong ao, hồ bởi nuôi trong ao, hồ không thể nuôi mật độ dày như ngoài lồng; ngoài ra, chi phí nuôi trong ao, hồ cũng nhiều hơn.

Cá nuôi trên sông bao giờ cũng ngon thịt và không có vị tanh như nuôi trong ao, hồ bởi nguồn nước luôn được luân chuyển. Đối với người nuôi cá lồng trên sông, điều lo ngại nhất chính là nguồn nước bị ô nhiễm, vì vậy cần kiểm soát tốt việc xả thải nước sản xuất và nước sinh hoạt của cộng đồng dân cư ra sông.

Ông Mai Lưu, thôn Cồn Sẻ hiện nuôi 6 lồng với hơn 1.000 con cá chẽm - Ảnh: L.Lan
Ông Mai Lưu, thôn Cồn Sẻ hiện nuôi 6 lồng với hơn 1.000 con cá chẽm - Ảnh: L.Lan

Khác với đại đa số hộ dân nuôi theo mùa vụ, anh Mai Tuyến là một trong số ít người chọn hướng đi nuôi cá lồng thâm canh quanh năm. Hiện gia đình anh đang sở hữu 20 bè cá với hơn 5 vạn con gồm nhiều loại có giá trị kinh tế cao, như: Cá chẽm, nâu, dìa, bớp... Anh Tuyến cho biết, nuôi cá lồng thâm canh trên sông giống như “canh bạc” may rủi, năm nào không xảy ra thiên tai thì thắng lớn, năm nào mưa lũ về thì coi như mất trắng.

Theo anh Tuyến, muốn cá phát triển tốt, đạt hiệu quả cao và không bị hao hụt, ngoài việc lựa chọn con giống khỏe mạnh, người nuôi cần để ý chăm sóc cá khi vừa mang về thả nuôi. Bởi trong giai đoạn này cá còn nhỏ, rất mẫn cảm với môi trường mới. Cá lồng bè thường có thời gian nuôi dài, từ 8-10 tháng đối với cá bớp và 10-12 tháng đối với cá mú.

Đặc biệt, cá chẽm anh nuôi từ 2-3 năm mới xuất bán, với giá từ 1-1,2 triệu đồng/con. Năm nào nuôi thuận lợi, không xảy ra mưa lũ, gia đình anh thu về hơn 200 triệu đồng sau khi trừ chi phí.

Trăn trở “bài toán” đầu ra và thương hiệu

Nghề nuôi cá lồng trên sông đã và đang đổi thay diện mạo làng quê Cồn Sẻ. Với tiềm năng tự nhiên sẵn có, nguyện vọng lớn nhất của bà con lúc này là tiếp tục mở rộng quy mô, đưa thêm nhiều loại cá “đặc sản” có giá trị kinh tế cao vào nuôi trồng. Tuy nhiên, hiện nay các hộ nuôi gặp nhiều khó khăn trong tìm kiếm đầu ra tiêu thụ sản phẩm.

Các hộ dân chủ yếu bán cho các thương lái, nhà hàng trên địa bàn và tự bán ở chợ nên lượng tiêu thụ không ổn định. Cái khó nhất đối với các hộ nuôi cá lồng trên sông là thời điểm gần mùa mưa lũ, số lượng cá cần xuất bán lớn nên dễ bị tư thương ép giá.

Nuôi cá lồng tại thôn Cồn Sẻ, xã Nam Gianh đang là hướng đi hiệu quả - Ảnh: L.Lan
Nuôi cá lồng tại thôn Cồn Sẻ, xã Nam Gianh đang là hướng đi hiệu quả - Ảnh: L.Lan

Ông Nguyễn Cương, Trưởng thôn Cồn Sẻ trăn trở: “Bà con chúng tôi rất mong nhận được sự quan tâm, đồng hành từ các cấp, các ngành và chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, đặc biệt là việc xây dựng thương hiệu cá lồng Cồn Sẻ. Có thương hiệu, sản phẩm mới có chỗ đứng vững chắc, nâng cao giá trị gia tăng và tiếp cận chuyên nghiệp hơn với thị trường trong và ngoài tỉnh”.

Khai thác lợi thế nguồn nước sông Gianh chảy qua, người dân thôn Cồn Sẻ đã tìm được hướng đi trong việc chuyển đổi cơ cấy cây trồng, vật nuôi, thay đổi đời sống của nhiều hộ dân trong thôn. Nhưng để nghề nuôi cá lồng thực sự trở thành thế mạnh kinh tế mũi nhọn và phát triển bền vững, rất cần những chính sách hỗ trợ kịp thời về vốn, kỹ thuật và kết nối thị trường tiêu thụ ổn định lâu dài.

Linh Lan

tin liên quan

Thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ, tăng cường liên kết chuỗi giá trị
Thúc đẩy phát triển nông nghiệp hữu cơ, tăng cường liên kết chuỗi giá trị
QTO - Sáng 14/8, Hội Nông dân tỉnh phối hợp với Hội Nông nghiệp tuần hoàn Việt Nam và Tập đoàn Quế Lâm tổ chức tọa đàm với chủ đề “Nông dân Quảng Trị với nông nghiệp hữu cơ và liên kết chuỗi giá trị Quế Lâm”. Tham dự có 120 đại biểu là cán bộ Hội Nông dân các cấp cùng các hộ nông dân tiêu biểu trên địa bàn tỉnh.
Hiệu quả công tác khuyến nông
Hiệu quả công tác khuyến nông
QTO - Sau khi được sắp xếp hoạt động theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, công tác khuyến nông cơ sở trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát huy hiệu quả rõ nét.
'Đánh thức' ruộng hạn
'Đánh thức' ruộng hạn
QTO - Thời gian qua, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã tập trung triển khai nhiều giải pháp “đánh thức” những diện tích đất lúa sản xuất kém hiệu quả thông qua chuyển đổi sang các loại cây trồng phù hợp.