QTO - Từ ngày 1/7/2026, nhật ký khai thác thủy sản điện tử chính thức được áp dụng bắt buộc đối với nhiều nhóm tàu cá theo quy định của Luật Thủy sản. Đây là bước tiến quan trọng trong hiện đại hóa quản lý nghề cá, góp phần minh bạch hoạt động khai thác, truy xuất nguồn gốc thủy sản và thực hiện các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC) về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Sau thời gian triển khai thí điểm, nhiều ngư dân đã bắt đầu làm quen với việc sử dụng nhật ký khai thác điện tử và ghi nhận những tiện ích rõ rệt mà công cụ này mang lại. Vừa trở về sau chuyến biển hơn 20 ngày với khoang tàu đầy ắp cá mực, ông Bùi Đình Quý, chủ tàu cá số hiệu QT 96688TS chiều dài 21,4m, công suất 780CV, cho biết, đây là lần đầu tiên ông sử dụng thiết bị nhật ký khai thác điện tử do Công ty CP giải pháp phần mềm GTO cung cấp. Ban đầu còn bỡ ngỡ, nhưng chỉ sau một chuyến biển, ông Quý đã quen với các thao tác trên thiết bị.
Theo ông Quý, thiết bị được tích hợp định vị GPS, tự động ghi nhận vị trí khai thác và thời gian hoạt động của tàu. Để sử dụng, ngư dân chỉ cần thực hiện một số thao tác đơn giản để cập nhật thời điểm thả lưới, thu lưới và sản lượng khai thác. Dữ liệu được lưu trữ trên hệ thống và đồng bộ với nền tảng eCDT (Hệ thống phần mềm truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử Việt Nam), giúp giảm đáng kể việc ghi chép thủ công, hạn chế sai sót và thuận tiện cho công tác kiểm tra, xác nhận khi tàu cập cảng.
“Trước đây mỗi mẻ lưới tôi phải nhìn thời gian, tọa độ trên thiết bị giám sát hành trình rồi ghi tay từng nội dung vào phiếu nhật ký khai thác, nhiều khi bận việc hoặc sóng gió dễ quên. Giờ chỉ cần thao tác trực tiếp trên thiết bị, khi tàu cập cảng dữ liệu đã có sẵn, vừa nhanh vừa thuận tiện”, ông Quý chia sẻ.
![]() |
| Cán bộ kỹ thuật hướng dẫn ngư dân sử dụng nhật ký khai thác điện tử trên tàu cá - Ảnh: L.A |
Tương tự, sau hai chuyến biển áp dụng nhật ký khai thác điện tử, anh Phạm Văn Bảy, thuyền trưởng tàu cá số hiệu QT 95069TS chiều dài 16m, cho biết, điều anh hài lòng nhất là dữ liệu được lưu trữ đầy đủ và chính xác. Hệ thống tự động ghi nhận hành trình, vị trí khai thác, giúp giảm đáng kể thời gian ghi chép bằng tay, đồng thời hạn chế nhầm lẫn trong quá trình cập nhật thông tin. “Khi cập cảng, dữ liệu đã có sẵn trên hệ thống nên việc xác nhận sản lượng, truy xuất nguồn gốc thuận lợi hơn nhiều”, anh Bảy cho hay.
Theo anh Bảy, việc áp dụng nhật ký điện tử còn giúp ngư dân yên tâm hơn trong quá trình khai thác khi thiết bị có chức năng cảnh báo tàu vượt ra ngoài vùng được phép khai thác. Toàn bộ dữ liệu hành trình và lịch sử chuyến biển được lưu giữ trên hệ thống, tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý trong kiểm tra, xác nhận nguồn gốc thủy sản, đồng thời giúp ngư dân đáp ứng các quy định về chống khai thác IUU, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm khi tiêu thụ và xuất khẩu.
Cảng trưởng Cảng cá Cửa Việt Trần Thiện Nhân khẳng định, việc triển khai nhật ký khai thác thủy sản điện tử là bước chuyển quan trọng trong quá trình chuyển đổi số của ngành thủy sản. Không chỉ thay thế hình thức ghi chép thủ công, hệ thống còn giúp cơ quan quản lý theo dõi đầy đủ hành trình khai thác, vị trí đánh bắt, thời gian hoạt động và sản lượng của từng chuyến biển. Dữ liệu được số hóa, lưu trữ tập trung, tạo thuận lợi cho công tác kiểm tra, xác nhận nguồn gốc thủy sản và thực hiện các quy định chống khai thác IUU.
Để việc sử dụng nhật ký điện tử phát huy hiệu quả, theo ông Nhân, điều quan trọng là các phần mềm của các đơn vị cung cấp phải được đồng bộ với hệ thống eCDT. Khi đó, bất kể tàu cá sử dụng thiết bị của doanh nghiệp nào hay cập cảng ở đâu, cán bộ cảng chỉ cần truy cập một hệ thống để kiểm tra, in nhật ký điện tử và xác nhận sản lượng. Điều này vừa giảm áp lực cho lực lượng thực thi, vừa tạo thuận lợi cho ngư dân.
“Nếu mỗi nhà cung cấp vận hành một nền tảng riêng, sử dụng một phần mềm riêng, mục tiêu hiện đại hóa công tác quản lý nghề cá sẽ khó đạt được, đồng thời làm tăng áp lực cho cơ quan quản lý và gây bất tiện cho ngư dân trong quá trình cập cảng, xác nhận sản lượng”, ông Nhân trao đổi.
Từ thực tế sử dụng, ông Nhân cũng kiến nghị các đơn vị phát triển phần mềm tiếp tục hoàn thiện giao diện theo hướng trực quan hơn. Cụ thể, ngoài việc hiển thị tọa độ khai thác, hệ thống nên tự động gắn ký hiệu K đối với vùng khơi, L đối với vùng lộng và B đối với vùng bờ. Nhờ đó, cán bộ cảng chỉ cần quan sát ký hiệu là có thể xác định ngay tàu cá khai thác ở khu vực nào mà không phải dò từng tọa độ trên bản đồ.
Theo ông Nhân, nếu được bổ sung tính năng này, thời gian kiểm tra hồ sơ tàu cá sẽ được rút ngắn đáng kể, cán bộ cảng cá không phải đối chiếu từng tọa độ trên bản đồ mà vẫn xác định chính xác tàu khai thác ở vùng khơi, vùng lộng hay vùng bờ. Đây cũng là cơ sở để phát hiện sớm những trường hợp khai thác sai vùng, nâng cao hiệu quả quản lý và thực thi các quy định về chống khai thác IUU.
Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Lê Kim Hoàng thông tin, theo lộ trình quy định tại Thông tư số 81/2025/TT-BTNMT của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, từ 1/7/2026 đến 1/1/2027, toàn bộ tàu cá có chiều dài từ 12m trở lên bắt buộc phải áp dụng nhật ký khai thác điện tử. Theo quy định này, trong số hơn 8.600 tàu cá toàn tỉnh sẽ có khoảng 1.700 tàu cá phải thực hiện và đến nay đã có khoảng hơn 100 tàu cá thuộc diện này lắp đặt nhật ký điện tử.
“Trước đây, khi tàu cá cập bờ bán sản phẩm ngư dân mới ngồi “nhớ lại” những nơi tàu đánh bắt để ghi lại theo kiểu “hồi ký”. Rất ít tàu cá ghi nhật ký theo thời gian thực nên thông tin thường không chính xác. Nhật ký điện tử đã khắc phục được hạn chế này. Đồng thời, dữ liệu được cập nhật kịp thời cũng giúp cơ quan quản lý và các cảng cá thuận lợi hơn trong kiểm tra, giám sát, xác nhận sản lượng bốc dỡ qua cảng và truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác”, ông Hoàng cho hay.
Theo ông Hoàng, để bảo đảm thực hiện đúng lộ trình, thời gian tới, Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư sẽ tiếp tục phối hợp với các địa phương ven biển, lực lượng Biên phòng, các tổ chức quản lý cảng cá và đơn vị cung cấp dịch vụ đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn trực tiếp cho chủ tàu, thuyền trưởng cài đặt và sử dụng nhật ký điện tử; đặc biệt là với nhóm ngư dân lớn tuổi, còn hạn chế trong sử dụng điện thoại thông minh, thiết bị điện tử; đồng thời bố trí lực lượng hỗ trợ tại các cảng cá để kịp thời giải đáp, xử lý những vướng mắc phát sinh trong quá trình sử dụng.
Đối với những trường hợp cố tình không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc ghi chép không trung thực, làm ảnh hưởng đến công tác quản lý, truy xuất nguồn gốc và chống khai thác IUU, cơ quan chức năng sẽ tăng cường kiểm tra, nhắc nhở và xử lý theo quy định.
“Việc triển khai nhật ký khai thác điện tử không chỉ thay đổi phương thức ghi chép của ngư dân mà còn tạo nền tảng xây dựng cơ sở dữ liệu nghề cá thống nhất, phục vụ quản lý minh bạch và truy xuất nguồn gốc thủy sản. Khi hệ thống được triển khai đồng bộ, đây sẽ là công cụ quan trọng góp phần thực hiện hiệu quả các quy định về chống khai thác IUU, hướng tới xây dựng nghề cá hiện đại, minh bạch, có trách nhiệm và bền vững”, ông Hoàng khẳng định.
Lê An









