QTO - Bữa ấy trời đã sang thu, nghĩa là đã qua mùa “bà già đi biển”, ngoài khơi sóng đã nhấp nhô bạc đầu. Thế mà chiếc thuyền gỗ 33 sức ngựa vẫn nhổ neo rời Cửa Tùng hướng ra Cồn Cỏ, rồi sau hơn bốn tiếng đồng hồ xô lắc ngả nghiêng, nó cũng cập được Bến Nghè. Ðó là chuyến ra đảo Cồn Cỏ đầu tiên của lãnh đạo Quảng Trị sau ngày tỉnh mới tái lập mấy tháng và cũng là lần đầu tiên trong đời, tôi được ra Cồn Cỏ.
Tôi nhớ chuyến ấy ngoài nhà thuyền thì mọi người đều bị say sóng, vật vã suốt mấy giờ đồng hồ, thế mà khi lên đảo, tất thảy đều tươi tỉnh, hoạt bát. Ai cũng muốn ôm bộ đội, muốn đi thật nhiều nơi, bịn rịn thật lâu trên mỗi điểm cao, mỗi bãi cát, từng ghềnh đá… nơi đã thành huyền thoại trong sử vàng của quê hương đất nước và trong cảm xúc thiêng liêng của mỗi đồng bào…
Sau chuyến ấy, hơn chục lần tôi quay lại Cồn Cỏ vẫn với nhiệm vụ của một phóng viên, chứng kiến nhiều sự kiện, những bước ngoặt của quá trình dân sự hóa để biến “chiến hạm bất khả xâm phạm” năm xưa thành “viên ngọc” đầu cầu xuyên Á của hòn đảo quê hương.
Còn lần này ra Cồn Cỏ, tôi là một du khách già xuống tàu cùng gần trăm bà con đến từ nhiều miền đất nước. Từng đã đi tàu du lịch của các hãng Côn Đảo Express, Super Đông rong ruổi từ Vũng Tàu đi Côn Đảo, từ Hà Tiên ra Phú Quốc rồi vô Hải Tặc trên biển Tây Nam, nhưng chuyến tàu cao tốc Cửa Việt-Cồn Cỏ cho tôi những cảm xúc khó tả. Có lẽ sự hiện đại của phương tiện, sự chuyên nghiệp trong phong cách làm du lịch và sự xuất hiện của du khách nói đủ giọng Bắc, Trung, Nam ngay trên quê hương khiến tôi bồi hồi nhớ chuyến ra đảo đầu tiên trên chiếc thuyền gỗ 33 sức ngựa năm ấy…
![]() |
| Một góc Cồn Cỏ - Ảnh: Đ.N.H |
Tình cờ tôi gặp lại Nam, một chàng lính Cồn Cỏ thực sự. Nhập ngũ từ 1992, đóng quân trên Cồn Cỏ, rồi trưởng thành, từ thủy thủ lên thuyền trưởng, từ tàu gỗ lên tàu sắt, chuyên tiếp tế và chở cán bộ ra đảo công tác. Cồn Cỏ ngấm vào máu thịt người lính này đến nỗi, khi chính quyền kêu gọi mở tuyến du lịch Cồn Cỏ, nhiều nhà đầu tư đến, hoạt động được một thời gian thì bỏ cuộc. Thế mà Nam vẫn quyết hướng cho gia đình tham gia. Ban đầu thì liên kết, sau đối tác nản chí thoái lui, nhưng Nam vẫn tìm mọi cách bám trụ.
Và chiếc tàu Chín Nghĩa Quảng Trị của công ty gia đình anh có sức chứa trên 150 người hiện là phương tiện hiện đại nhất của tuyến du lịch Cồn Cỏ. Nam mê Cồn Cỏ nên hiểu cặn kẽ từng bãi đá, từng loài cây, từng câu chuyện về Cồn Cỏ từ thời chiến tranh đến những nghiên cứu về hệ sinh thái của hòn đảo này. Miệt mài gần 35 năm ra - vào Cồn Cỏ, nếu có một cuộc bình chọn thì chắc chắn Nam là người lập kỷ lục đi ra-đi vô Cồn Cỏ nhiều nhất cả nước.
Cồn Cỏ không có khách sạn, nhưng có nhiều nhà khách công vụ của các cơ quan và hệ thống homestay tư nhân có thể lưu trú vài trăm người. Tôi chọn một homestay cách xa trung tâm, nằm sát biển của Tuấn và Giang, đôi vợ chồng trẻ ra đảo được gần 10 năm. Tuấn làm thợ lặn, Giang kinh doanh đủ thứ dịch vụ, từ homestay, nấu cơm cho khách, đến chế biến, kinh doanh hải sản và những sản vật rừng Cồn Cỏ.
Ở đây, lần đầu tiên sống chậm với Cồn Cỏ, tôi nhận ra mình đang được ngắm nhìn hòn đảo không phải trong bộ quân phục một người lính tiền tiêu mà là với dáng vóc của một chàng trai tuấn tú. Thay vì đi xe điện tham quan cùng đoàn du khách, tôi thuê một chiếc xe máy. Mờ sáng thì leo lên đèn biển ngắm mặt trời. Trưa nắng luồn vào rừng xem cây. Chiều mát chạy vòng quanh đảo. Tối ra ngồi bờ ghềnh ngắm sóng. Và đêm thì cùng vợ chồng chủ nhà và mấy anh em trên đảo nổi lửa nướng cá chuồn cồ và đủ loại ốc to, ốc nhỏ. Rồi vừa lai rai nghe chuyện Cồn Cỏ, vừa dõi theo những ngư thuyền đang pha đèn sáng trưng đuổi bắt đàn cá cơm cách bờ đảo mấy chục mét…
Tiếc là ban ngày phóng xe mấy tiếng đồng hồ dọc ngang Cồn Cỏ mà vẫn chưa biết mình đã tới hết những địa danh một thời lừng lẫy hay chưa. Năm xưa trong mưa bom bão đạn, Cồn Cỏ nổi lên những cái tên: “Trận địa Hà Nội”, “Đồi Hải Phòng”, “Khu Hà Nam”, “Khu Hà Tây”, “Bãi Hương Giang”, “Bãi Hi Rôn” và còn bao nhiêu cái tên chưa được nhắc đến. Mỗi cái tên quê hương là một trận địa vô cùng ác liệt, nhưng với những người lính Cồn Cỏ, cả nước như đã vượt sóng về đây tiếp sức cho họ để làm nên chiến thắng!
Giá như trong sơ đồ hướng dẫn tham quan đảo ghi rõ những địa danh hoặc cắm biển chỉ dẫn thực địa kèm vài lời giới thiệu về trận địa ấy để du khách dễ tiếp cận sử tích một thời oanh liệt của “chiến hạm” Cồn Cỏ thì tốt biết mấy.
Chẳng phải ngẫu nhiên mà người xưa gọi Cồn Cỏ là Thảo Phù. Đã từng bị đạn bom cạo trọc không còn một bóng cây, thế mà chất bazan màu mỡ phục sinh thảm thực vật nhanh đến kỳ lạ. Rừng như một thứ “kem dưỡng” thần dược xóa đi trăm nghìn vết sẹo bom nham nhở trên khuôn mặt Cồn Cỏ. Đạp xe vào rừng, giữa rậm rạp đa tầng sẽ gặp rất nhiều cổ thụ thân chẻ nhiều nhánh đường bệ sum suê, gốc già xù xì dấu bom vết đạn. Các “cụ” là những người lính già Cồn Cỏ, từng ưỡn ngực hứng bao phong ba bão táp từ biển khơi, đã kiên cường trước mưa bom bão đạn, đầy mình thương tích. Có “cụ” bị đạn pháo phạt tận gốc, có “cụ” bị bom quật lên phơi rễ giữa nắng hè. Nhưng mỗi gốc cây-một người lính Cồn Cỏ vẫn âm thầm ứa nhựa níu chặt vào đất để rồi khi bom tạnh pháo ngừng lại bật lên mầm mới mà vươn thành cổ thụ, làm gương cho mầm non rừng đảo hôm nay. Người ta nói Cồn Cỏ không có nước mạch ngầm, chỉ có những túi trữ nước mặt nhờ có thảm rừng, thế nên mất rừng là mất nước.
Tôi nhớ có lần ra Cồn Cỏ mùa hạn. Buổi sáng lính đảo phải xếp hàng trước một cái xì-tẹc (citerne) để nhận suất nước rửa mặt, mỗi người chỉ một ca quân dụng. Nước ấy chủ yếu hứng được khi trời mưa hoặc tiếp tế từ đất liền. Hồi đó ở gần cổng chào bến thuyền hiện nay có một cái giếng cổ hình chữ L, lính Cồn Cỏ quen gọi “giếng Lờ”, mùa hè nước ri rỉ, lơ lớ ngọt, nhưng là bảo bối của bộ đội những ngày nóng nực. Ở Cồn Cỏ, một thời “giếng Lờ” cũng nổi tiếng như con cua đá vậy: “Cồn Cỏ có cái giếng Lờ/Bao chàng lính trẻ ngồi chờ nước ra”.
Giếng L nay không còn nữa, nhưng nó đã trở thành ký ức không phai trong lớp người Cồn Cỏ một thuở hy sinh. Thời nay, với công nghệ hiện đại, nước sinh hoạt có thể lọc từ nước biển, nhưng nước cho đất và rừng Cồn Cỏ thì chỉ có giữ được những túi trữ tự nhiên trong lòng đảo mới là giải pháp vững bền. Có lẽ người Cồn Cỏ ý thức được điều đó nên khi vừa đặt chân lên đảo, du khách đã đọc thấy ba chữ “Cồn Cỏ Xanh” ngay đầu âu cảng.
![]() |
| Du khách check-in trên đảo Cồn Cỏ - Ảnh: Đ.N.H |
Những người trẻ ở Cồn Cỏ như thuộc lòng quá trình dân sự hóa Cồn Cỏ đồng thời hiện hữu ba không gian phát triển: Đó là kinh tế biển bao gồm du lịch, dịch vụ hậu cần nghề cá; đó là hệ sinh thái gồm thảm thực vật nguyên sinh, hệ san hô quý hiếm cùng sự dạng sinh học biển và về an ninh quốc phòng thì đó là một cứ điểm tiền tiêu… Và họ cũng hiểu rằng những lợi thế cực lớn, nhưng để khai thác lợi thế thì cực khó!
Tôi nhớ cách đây 20 năm, một chuyên gia hàng đầu về quy hoạch du lịch biển của Cuba đã ra Cồn Cỏ. Với kinh nghiệm 30 năm ở hàng chục quốc gia biển nhiệt đới, ông Abelardo đã đưa ra quan điểm giảm thiểu áp lực về người và mật độ công trình để giữ chất nguyên sơ của đảo thì mới có du lịch sinh thái đúng nghĩa. Nhưng khoản đầu tư ước tính ít nhất phải gần 30 triệu USD. Quả là thách thức khó vượt của một tỉnh nghèo…
Người ta nói lợi thế của Cồn Cỏ so với nhiều hòn đảo khác là tính nguyên sơ - nền tảng để phát triển một mô hình du lịch sinh thái có tính đặc thù, không cạnh tranh bằng số lượng khách, mà bằng giá trị trải nghiệm khác biệt. Thế nhưng khi đặt chân lên Cồn Cỏ, tôi vẫn cảm giác có gì đó phân vân, tiêng tiếc. Ấy là bởi chứng kiến có nhiều tuyến đường thảm nhựa thênh thang hiện đại, có cả tuyến đôi với dải phân cách cứng quy mô nhiều làn xe con, xe tải tiêu chuẩn chả khác gì ở trung tâm của một đô thị đông người lắm xe trong đất liền. Câu chuyện những ngôi nhà nhỏ núp dưới tán cây hay chênh vênh bên bờ đá, cùng những lối đi lát đá, lát sỏi cho xe đạp, xe thổ mộ hài hòa giữa thiên nhiên mà vị chuyên gia quy hoạch Cuba mường tượng ra với tôi ngày ấy, có lẽ vẫn mãi là ý tưởng mà thôi…
Tạm biệt Cồn Cỏ, tôi nhớ mãi cái bồn hoa hình đôi bàn tay chụm vào nâng niu khóm hoa đỏ rực hết mình bên con đường dẫn ra âu cảng. Tôi cũng đứng ngắm không chán mắt một nhóm bé gái áo váy sặc sỡ ríu rít đạp xe chạy quanh hồ nước trung tâm đảo như dạo giữa công viên, cảm giác thanh bình đến lạ. Chúng làm tôi nhớ có lần ra đảo viết bài báo đặt tít “Nơi sinh: Cồn Cỏ” để kể về em bé đầu tiên ra đời trên đảo, như một biểu tượng của dân sự hóa trên đảo tiền tiêu, nơi năm xưa chỉ một màu áo lính, được mệnh danh là “chiến hạm”, là “pháo đài”. Rồi mơ hồ nghĩ, đôi khi trong nhóm đạp xe kia có bé gọi nhân vật của tôi ngày ấy là mẹ cũng nên!
Hoa An










