Trong suốt hành trình tìm đường cứu nước kể từ ngày rời Sài Gòn 5/6/1911 đến ngày trở về Tổ quốc 28/1/1941 (mồng 2 Tết Tân Tỵ), Nguyễn Tất Thành-Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã sống, làm việc, hoạt động cách mạng ở 27 nước, trong đó có các nước: Pháp, Mỹ, Anh, Đức, Liên Xô, Thái Lan, Trung Quốc.
![]() |
| Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Lộc vượt qua mốc 108 biên giới Việt Nam-Trung Quốc về đến Pác Bó (xã Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng cũ), một nơi “bí mật” có “hàng rào quần chúng bảo vệ và có đường rút lui”. (Ảnh: TTXVN) |
“Ba mươi năm ấy, chân không nghỉ
Mà đến bây giờ mới tới nơi”
(Tố Hữu - Theo chân Bác)
Trưa 28/1/1941, Bác Hồ cùng các đồng chí Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Vũ Anh và một số đồng chí nữa vượt qua mốc biên giới Việt Nam-Trung Quốc số 108 đặt chân lên mảnh đất thân yêu của Tổ quốc nhưng còn đau thương dưới ách cai trị của thực dân, phát-xít. Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh về nước để trực tiếp lãnh đạo cách mạng, quyết tâm cùng Trung ương Đảng đưa phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ mới đầy biến động ở trong nước và trên thế giới, hướng chủ yếu vào mục tiêu giải phóng, giành độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào.
Những ngày đầu mới về nước, các đồng chí ở Cao Bằng đón Nguyễn Ái Quốc về ở tại gia đình cơ sở cách mạng. Để bảo đảm bí mật, từ ngày 8/2/1941, Nguyễn Ái Quốc ra ở tại hang Cốc Bó thuộc làng Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng (nay là xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng).
Gần chỗ ở và làm việc của Nguyễn Ái Quốc có dòng suối hiền hòa và ngọn núi lớn, Nguyễn Ái Quốc đặt tên là suối Lênin, núi Các Mác. Người luôn luôn tâm niệm trung thành với lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin và vận dụng thành công lý luận đó, đưa cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc viết bài thơ “Pác Bó hùng vĩ”:
“Non xa xa, nước xa xa,
Nào phải thênh thang mới gọi là.
Đây suối Lênin, kia núi Mác,
Hai tay xây dựng một sơn hà”.
Tại Pác Bó, Cao Bằng, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa I). Các đồng chí Trung ương từ Hà Nội lên Cao Bằng dự hội nghị. Từ khi Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 2/1930) đến năm 1940, Trung ương Đảng đứng chân trên địa bàn Sài Gòn-Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) để lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng cả nước. Từ cuối năm 1940, sau Khởi nghĩa Nam Kỳ, địch tăng cường khủng bố và trước yêu cầu mới, Trung ương Đảng xây dựng An toàn khu (ATK) tại ngoại thành Hà Nội, và phát triển lên Hiệp Hòa, Bắc Giang (nay là tỉnh Bắc Ninh).
Để bảo đảm bí mật, an toàn, các đồng chí Trung ương từ Hà Nội lên Thái Nguyên, theo đường rừng lên Lạng Sơn và sang Trung Quốc, vòng lên Cao Bằng. Hội nghị Trung ương 8 họp tại lán Khuổi Nặm từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941 do Nguyễn Ái Quốc chủ trì. Tham dự Hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hạ Bá Cang (Hoàng Quốc Việt), Phùng Chí Kiên và một số đồng chí khác. Hội nghị đã kiện toàn tổ chức Ban Chấp hành Trung ương, cử đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư. Ban Thường vụ Trung ương gồm các đồng chí: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt.
Các đồng chí Trung ương từ dưới xuôi lên lần đầu tiên được gặp Nguyễn Ái Quốc, lãnh tụ tối cao, người sáng lập Đảng và là cán bộ quan trọng của Quốc tế Cộng sản. Vì vậy, mọi người đều gọi Nguyễn Ái Quốc là đồng chí thượng cấp. Sau đó, các đồng chí đều gọi Nguyễn Ái Quốc là Bác, vừa tôn kính, vừa tình cảm. Từ tháng 8/1942, Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh, các đồng chí gọi Bác là Bác Hồ.
Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5/1941) là sự kiện chính trị đặc biệt, mở ra thời kỳ phát triển mới của cách mạng Việt Nam. Hội nghị phân tích sâu sắc phong trào cách mạng của Việt Nam và Đông Dương, mục tiêu giải phóng dân tộc, giành độc lập đã đặt ra trực tiếp và bức thiết, nhất là sau Khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ và Đô Lương. Nhận rõ chiều hướng phát triển của Chiến tranh thế giới thứ hai với những dự báo quan trọng, cần thiết phải phát triển mạnh mẽ cách mạng giải phóng dân tộc, hòa nhịp với sự nghiệp đấu tranh của các dân tộc ở châu Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Ấn Độ, Indonesia. Trung ương kế thừa và phát triển những chủ trương chuyển hướng quan trọng của Hội nghị Trung ương 6 (tháng 11/1939) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì và Hội nghị Trung ương 7 (tháng 11/1940) do Quyền Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì. Nghị quyết Trung ương 8 và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã có những quyết sách quan trọng của thời kỳ mới.
Tập trung thực hiện cho kỳ được mục tiêu chiến lược độc lập dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tất cả vì lợi ích quốc gia, dân tộc, độc lập trên hết, Tổ quốc trên hết. Nghị quyết Trung ương 8 nhấn mạnh: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”(1).
Nguyễn Ái Quốc và Trung ương quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh để tập hợp, đoàn kết mọi giai cấp, tầng lớp, thành phần dân tộc, phấn đấu vì mục tiêu giành độc lập. Xây dựng các đoàn thể Cứu quốc. Mặt trận, các đoàn thể có chương trình hành động và phát triển về tổ chức. Quyết định xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng, tiến hành khởi nghĩa vũ trang và chiến tranh cách mạng, coi khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm, đi từ khởi nghĩa từng phần đến Tổng khởi nghĩa giành độc lập, giành chính quyền về tay nhân dân, sáng tạo các hình thức và phương pháp đấu tranh. Xây dựng Đảng vững mạnh từ Trung ương đến các Xứ ủy và tỉnh, thành, huyện, xã bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng, đường lối, về ý chí và hành động. Trung ương thống nhất cao chủ trương cách mạng thành công xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - chính thể phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Thúc đẩy mạnh mẽ phong trào đấu tranh giành độc lập ở Lào, Campuchia với hình thức tổ chức Mặt trận và phương pháp đấu tranh thích hợp.
Sau Hội nghị Trung ương 8, phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ trên cả nước do Đảng và Việt Minh lãnh đạo. Nhiều địa phương xây dựng căn cứ địa cách mạng. Ở miền bắc, có căn cứ địa Cao Bằng do Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và một số đồng chí khác lãnh đạo. Căn cứ địa Bắc Sơn - Võ Nhai do Thường vụ Trung ương lãnh đạo. Hai căn cứ đó phát triển thành Khu giải phóng Việt Bắc có ảnh hưởng phong trào toàn quốc. Tại Cao Bằng, Bác Hồ nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: Phải lo tập hợp đoàn kết toàn dân là việc trước hết, “người trước, súng sau”. Đó là tư tưởng đặc sắc của Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh cho rằng, sự nghiệp cách mạng muốn đi tới thành công, cần thiết phải có sự đoàn kết, đồng sức, đồng lòng, đồng tâm hiệp lực và đức hy sinh “Sự nghiệp làm nên bởi chữ đồng”. Trong Kính cáo đồng bào, ngày 6/6/1941, Người viết: “Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: Người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề”(2).
Trong lãnh đạo cách mạng, dự báo sự phát triển có tầm quan trọng đặc biệt. Nguyễn Ái Quốc từng dự báo sớm muộn phát-xít Đức cũng tấn công Liên Xô và Liên Xô nhất định thắng, đó là cơ hội cho cách mạng nhiều nước thắng lợi. Ngày 22/6/1941, Đức tấn công Liên Xô, chiến tranh thế giới trở thành cuộc chiến giữa 2 phe: Phát-xít và Đồng minh. Tháng 2/1942, Nguyễn Ái Quốc dự báo “1945 Việt Nam độc lập”(3). Hồ Chí Minh có các chuyến đi Trung Quốc (tháng 8/1942 và tháng 1/1945) để tranh thủ sự ủng hộ của các nước Đồng minh và cũng khẳng định cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam đứng về phe Đồng minh chống phát-xít. Tháng 10/1944, trong Thư gửi đồng bào toàn quốc, Hồ Chí Minh có dự báo rất quan trọng: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các Đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!”(4).
Tháng 5/1945, từ Cao Bằng, Hồ Chí Minh tới Tân Trào, Tuyên Quang. Tháng 8/1947, Người nói với các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp: Lúc này thời cơ ngàn năm có một đã tới, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải quyết tâm giành cho được độc lập. Hồ Chí Minh chủ trì Hội nghị Đảng toàn quốc từ ngày 14 đến 15/8/1945 và Quốc dân Đại hội Tân Trào từ ngày 16 đến 17/8/1945 quyết định Tổng khởi nghĩa. Người có thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”(5).
Sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phát huy cao nhất tinh thần yêu nước, khát vọng độc lập, tự do và thực lực cách mạng dẫn đến thắng lợi vẻ vang của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra thời đại mới của dân tộc, thời đại Hồ Chí Minh với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Tư tưởng lớn và những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng sự lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ cách mạng. Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tập trung hiện thực hóa những quyết sách của Đại hội XIV của Đảng. Đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết, nhân dân, con người ở vị trí trung tâm. Phát huy ý chí tự lực, tự cường và nội lực của đất nước, kết hợp với hội nhập, hợp tác quốc tế, đoàn kết phấn đấu xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, hùng cường, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới.
------------------------------
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tập 7, trang 112.
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập 3, trang 230.
(3) Hồ Chí Minh: Sđd, tập 3, trang 267.
(4) Hồ Chí Minh: Sđd, tập 3, trang 538.
(5) Hồ Chí Minh: Sđd, tập 3, trang 596.
Theo NDĐT









