QTO - “Hiện nay, do tuổi cao, sức yếu, nhiều bệnh tật và do hoàn cảnh gia đình, tôi quyết định dừng công việc sáng tác thơ, chọn một số bài thơ trong các tập đã xuất bản và các bài thơ mới sáng tác, làm thành một quyển lấy tên là "Thơ chọn”", nhà thơ Dương Văn Lượng viết trong “Lời thưa” của tác phẩm.
Tôi dừng lại ở lời bộc bạch chân thành này. Có thể nghi ngờ ở những người khác, nhưng với nhà thơ Dương Văn Lượng, tôi tin ông. Ông năm nay đã 75 tuổi, nếu tính cả “tuổi ta” là 76. Nhưng, cũng có những người trở thành tân hội viên Hội Nhà văn Việt Nam khi đã ngoài 70 kia mà? Biết bao người ngoài 80 vẫn sáng tạo.
![]() |
| Bìa tác phẩm "Dương Văn Lượng-Thơ chọn" - Ảnh: N.Đ.H |
“Dương Văn Lượng-Thơ chọn”, Nhà xuất bản Hội Nhà văn tháng 2/2026, gồm 248 bài thơ và phụ lục gồm 8 bài viết-những cảm nhận tri âm về thơ Dương Văn Lượng của các nhà văn, nhà thơ. Tập thơ dày gần 400 trang, sang trọng, nói lên sự chọn lựa kỹ lưỡng, chăm chút bằng cả tấm lòng, nâng niu con chữ của tác giả đối với tác phẩm.
Tôi cứ nghĩ mãi về vùng đất của tỉnh Quảng Trị, nơi có “Hò khoan Lệ Thủy”. Đó là vùng đất đặc biệt, nhiều thế hệ nhà văn, nhà thơ sinh ra và lớn lên ở đây. Có thể kể tên vài người như Hải Kỳ, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ngô Minh, Hoàng Vũ Thuật, Trần Quang Đạo, Nguyễn Thị Lê Na, Hoàng Thụy Anh, Ngô Mậu Tình... và nhà thơ, đại tá, tiến sĩ triết học Dương Văn Lượng.
Mở tập "Thơ chọn", tôi có chút hồi hộp, xúc động. Hẳn nhiên, không phải tập thơ chuyên biệt, “Dương Văn Lượng-Thơ chọn” đa đề tài, đa thi pháp, nhưng ông đã giới thiệu “chân dung” tâm hồn mình thuộc về quê hương, vùng đất Lệ Thủy (cũ) nói riêng và Quảng Trị nói chung.
“Trời Quảng Trị sáng vầng bất tử/Sông Thạch Hãn kết đài hoa đăng/Mỗi tấc đất cũng trở thành lịch sử/Mỗi phút giây cũng hóa vĩnh hằng”, (trích "Quảng Trị").
Đọc bài thơ này của Dương Văn Lượng, trong tôi hiện lên những ngày khói lửa của Chiến dịch 81 ngày đêm ở Thành Cổ. Tôi từng lăn lộn, từ Đông Hà, xuống Cửa Việt, qua cầu Cửa Tùng và đi qua đường ven biển về Triệu Phong, trở lại con đường tránh lũ và về lại Đông Hà. Tấc đất nhuốm máu, cung đường nào cũng có máu xương người lính. Đứng bên bờ sông Thạch Hãn, đoạn qua làng Bích La, xã Triệu Đông (nay là xã Triệu Phong) quê hương cố Tổng Bí thư Lê Duẩn, nhìn về phía Đài hoa đăng, ai cũng nhớ đến mấy câu thơ của cựu chiến binh Lê Bá Dương: “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ/Đáy sông còn đó, bạn tôi nằm/Có tuổi hai mươi thành sóng nước/Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm”.
Năm 2015, tôi có cơ hội đặc biệt, được hai Sở Giao thông Vận tải (cũ) của tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị (cũ) mời biên soạn với tư cách là chủ biên hai ấn phẩm tư liệu lịch sử về 70 năm của ngành . Tôi nhớ anh Hoàng Quang Vinh, lúc đó là Giám đốc Sở Giao thông Vận tải Quảng Trị (cũ) đã nói: “Với Quảng Trị, Trung ương có đầu tư một công trường hay đầu tư một dự án là hành động tri ân của cả nước”. Quảng Trị cũ là địa phương đầu tiên trong cả nước, các huyện đều được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.
Dương Văn Lượng viết về cố thổ, về vùng đất hai bên giới tuyến thời đất nước chưa thống nhất, bằng tấm lòng tri ân. Có thể thấy qua một số bài thơ như: “Người mẹ Quảng Bình”, “Quảng Trị”, “Trở lại Thạch Bàn”, Đồng Hới”, “Huyền thoại mới Hồ An Mã”, “Những lá thư Trường Sơn”, “Về thăm Long Đại”...
Đối với nhà thơ, người lính Dương Văn Lương, ký ức là một giá trị. Trong tập “Dương Văn Lượng-Thơ chọn”, có nhiều bài thơ có hai chữ “ký ức” như: “Chạm vào ký ức”, “Bi hùng ký ức”, “Miền ký ức”. Đó không chỉ là ký hiệu của ngôn ngữ, đó là dư chấn, là dư âm từ quá khứ: “Đã mấy chục năm/Người ơi có biết/Bi hùng ký ức/Dữ dội đời thường” (trích "Bi hùng ký ức").
Dương Văn Lượng là người lính, đi suốt cuộc trường chinh, cho đến ngày trở thành một cán bộ nghiên cứu khoa học, giảng viên Học viện Chính trị của Quân đội nhân dân. “Con đường phía Tây nơi tôi đang ở/Nườm nượp người xe về phía nội thành/Nắng nắng, mưa mưa kiếp người sấp ngửa/Khấp khểnh vòng quay kim tiền...” (trích "Cảm xúc tháng tư"). “Tháng tư ùa về những gam sáng tối/Người lính già hai nửa buồn vui”, tháng 4 hằng năm đến, đều tự hào, nhưng với Dương Văn Lượng, trái tim chất chứa buồn, vui.
“Dương Văn Lượng-Thơ chọn” gần như là một “bản đồ nội tâm” của ông. Hồn quê, hồn làng ám ảnh. Ông viết về quê khá nhiều, hiển thị trong nhiều thi phẩm: “Làng”, “Áo tơi”, “Đất”, “Hồn quê”, “Niềm quê”, “Bến quê”, “Đưa em về Lệ Thủy”, “Mắc nợ dòng sông”, “Bóng xưa”, “Lối ngõ nhà tôi”, “Miền cát bỏng”...
“Mấy chục năm rồi nhớ lắm sông ơi/Mạch ngọt cội nguồn nuôi tôi khôn lớn/Con sông quê hương không dài không rộng/Đi hết một đời chưa hiểu hết nông sâu” (trích "Nỗi nông sâu").
Xã Xuân Thủy, quê hương nhà thơ Dương Văn Lượng nằm bên bờ sông Kiến Giang, cạnh thị trấn Kiến Giang, huyện lỵ của Lệ Thủy (cũ), nay là xã Lệ Thủy, tỉnh Quảng Trị. Ông sinh ra trước Tết âm lịch, được ví là “con rắn ngủ đông”. Với người dân miền Trung, thời đói nghèo ấy là “giáp hạt”, đói quắt queo.
“Tắm phù sa từ trong bụng mẹ/Mẹ sinh tôi vào mùa nước dâng/Mái rạ, ổ rơm, nồi cơm rỗng bữa/Đội nắng, cõng mưa vớt lúa trương mầm” (trích "Đắng ngọt phù sa"). “Năm khô hạn ngước nguồn chậm xuống/Đói phù sa đất cũng rạc màu/Quanh quẩn hái liềm vui ngày cày cấy/Nắng nâu trầm soi trong mắt nhau”. Nhưng đó là tất cả yêu thương, vời vợi ký ức tuổi thơ.
“Ngày mẹ sinh tôi cỏ lút hiên nhà/Chơi với cỏ tóc còn để chỏm/Cọng cỏ con cánh tay bè bạn/Mắt lá sao trời khát vọng tuổi thơ” (trích "Qua mùa chưng cất"). Dương Văn Lượng lớn lên cùng hò khoan, qua lời ru nghĩa nhân của mẹ. Quê hương trở thành thời gian và không gian nghệ thuật, thành nhân vật trữ tình trong thơ Dương Văn Lượng. Con sông lịch sử Thạch Hãn, con sông văn hóa Kiến Giang gần như vắt qua tâm hồn nhà thơ, luôn tạo nên thi cảm trong ông.
R.Gamzatov (1923-2003) là nhà thơ nổi tiếng của Liên Xô cũ từng quả quyết, ông không đổi làng lấy bất cứ thứ gì, và cái làng Daghestan nhỏ bé của ông đẹp hơn cả Venice (Ý), Cairo (Ai Cập)... Ông không “ngoa ngôn”, bởi mỗi lần trở về, trên mỗi bước đi, ông gặp lại mình, gặp lại thời thơ ấu. Đó là ký ức, không gì thay thế được.
Đọc thơ Dương Văn Lượng nhận ra giá trị của ký ức. “Vốc ngụm cát ấm nóng bàn tay/Nghe tan chảy rần trong huyết quản/Những mỏng manh bay bay hoa nắng/Cầu vồng bảy sắc ước mơ...” (trích "Miền cát bỏng").
Nói không quá, quê và làng trở thành những từ khóa để tìm âm thanh tâm hồn của nhà thơ Dương Văn Lượng. “Miền cát bỏng gọi tên nguồn cội/Chắn bão giông che mọi kiếp con người”, thơ thay ông xác tín. Thơ ông gửi thông điệp về nguồn cội. Nhà thơ thổ lộ chân thành: “Tôi làm thơ như một sự đền ơn và trả nợ cuộc đời”.
Thơ là người. Dương Văn Lượng là người sống chân thành, nên thơ ông bày tỏ chính sự chân thành. Ông tâm sự: “Phong cách thơ của tôi chủ yếu là thơ truyền thống, tuân thủ vần điệu và trữ tình, đôi lúc xen giọng thơ ngẫm cảm về triết học. Tôi không chịu nhiều áp lực trong sáng tác và luôn làm chủ cảm xúc của mình”.
Nói như nhà thơ Trịnh Bích Ngân, thơ không chấp nhận sự giả dối. “Cám ơn người đã bỏ tôi/Để tôi biết tình yêu không hề mất/Cám ơn người đã ghét tôi/Để tôi biết vị tha là có thật” (trích "Cám ơn").
Sự chân thành, nhân ái trong thơ Dương Văn Lượng đã tạo ra những bài thơ dung dị, ngôn ngữ thi ca giàu biểu cảm, được bạn bè, người yêu thơ nâng niu bằng sự chân thành.
Ngô Đức Hành









