QTO - Hội Rằm tháng Ba Minh Hóa là một trong những lễ hội truyền thống quan trọng và là kết tinh văn hóa đặc sắc của người dân vùng sơn cước nơi miền Tây Bắc của tỉnh. Bởi, đó không chỉ là huyền tích, mà còn là nơi lưu giữ ký ức nguồn cội của cộng đồng.
Từ huyền tích…
Cho đến nay, không ai còn nhớ Hội Rằm tháng Ba Minh Hóa có tự bao giờ. Chỉ biết rằng, nó đã có từ lâu, thường được tổ chức vào 3 ngày 14, 15, 16/3 (âm lịch) hàng năm và gắn với truyền thuyết Thác Bụt.
Người Minh Hóa ngày nay vẫn truyền cho nhau câu chuyện: Ngày xưa, vào một ngày tháng 3 âm lịch, có hai anh em vào rừng lấy mật nhưng bị lạc trên núi Ông Ngoi. Đi mãi, hai người nhìn thấy một phiến đá hình vuông rất đẹp, nằm bên cạnh một giếng nước cùng một cây quýt trĩu quả.
Trong lúc đói khát, họ dừng chân để uống nước, hái quýt ăn, rồi tiếp tục đi. Lạ lùng thay, cứ mỗi lần rời khỏi khu rừng để quay về, họ lại trở về nơi có bàn đá, giếng nước đã gặp. Linh cảm rằng, tất cả những đồ vật này không phải ngẫu nhiên mà có mà chắc chắn là do thần linh tạo nên, lần này, họ quan sát kỹ hơn, thì thấy chung quanh bàn đá có 12 tượng đá hình người rất giống tượng Bụt. Vì mãi không tìm được lối về, người em nhặt một hòn đá hình người bỏ vào gùi mang theo, với ý nghĩ buộc thần linh phải chỉ dẫn cho họ đường về.
![]() |
| Nhiều sản vật đặc trưng của địa phương được bày bán giới thiệu tại Chợ Rằm tháng Ba Minh Hóa - Ảnh: V.M |
Thế nhưng, họ vẫn không sao ra khỏi khu rừng. Cuối cùng, khi ai cũng thấm mệt, họ lại dừng chân nghỉ ngơi bên Khe Cúi, nhưng khi đứng dậy đi tiếp, họ không làm sao có thể nhấc nổi hòn đá mang theo. Bực tức, người em dùng sống rựa chém một nhát vào hòn đá, làm vỡ mất một góc, rồi tìm đường về nhà. Một thời gian sau, người dân làng nơi họ sinh sống và các làng lân cận không hiểu sao thường bị đau ốm, bệnh tật, súc vật bị chết, cây cối vườn tược xác xơ.
Sau khi nghe chuyện kể của 2 anh em nọ, mọi người trong làng đều cho rằng, họ đã có lỗi với thần Bụt, nên để sửa chữa lại lỗi lầm, hai anh em cùng bà con dân làng lập miếu thờ thần Bụt ở bên Khe Cúi để tạ lỗi và cầu cho Nhân dân trong vùng không bị bệnh tật, đau ốm, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu. Cầu được ước thấy, từ đó cuộc sống của người dân ngày càng sung túc no đủ, mọi vật tốt tươi. Cứ như vậy, hễ đến rằm tháng 3 âm lịch, người dân nơi đây lại làm lễ rước, cúng tế Bụt và trở thành một lễ hội lớn nhất của người dân huyện Minh Hóa (cũ).
Đến nay, có nhiều dị bản kể về huyền tích nói trên, tuy nhiên nội dung cốt truyện vẫn cơ bản không thay đổi nhiều. Theo nhận định của các nhà nghiên cứu văn hóa, truyền thuyết về thác Bụt và Hội Rằm tháng Ba không phải ngẫu nhiên mà có. Đó là nét đẹp truyền thống, tín ngưỡng dân gian thể hiện tính cố kết cộng đồng, giao lưu văn hóa của các tộc người định cư ở khu vực miền núi phía Tây Bắc tỉnh.
Nẻo về nguồn cội
Mỗi dịp đến Hội Rằm tháng Ba, người dân huyện Minh Hóa (cũ) dù sinh sống, lập nghiệp ở đâu cũng thường nhắn nhủ nhau về với cội nguồn, quê hương với nhiều câu ca tha thiết mời gọi: “Thà rằng đau ốm mà nằm/ Ai thà mà bỏ ngày rằm tháng ba”, “Chẳng thà đau ốm mà nằm/ Không ai mà bỏ chợ rằm tháng ba”.
“Lâu lắm rồi chưa về quê, nên Hội Rằm năm nay, tôi sẽ về. Đây là dịp để thăm anh em, người thân, gặp gỡ bạn bè hàn huyên, trò chuyện”, ông Đinh Công Định (SN 1952) ở TP. Huế hẹn gặp lại chúng tôi tại Hội Rằm tháng Ba Minh Hóa năm nay. Từng sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nước còn chiến tranh, trong ký ức của ông Định quê hương những năm tháng đó rất nghèo khó. Cho đến bây giờ, những câu chuyện về huyền tích Hội Rằm, thác Bụt và ký ức về phiên chợ Rằm tháng ba vẫn không hề phai nhạt trong ông.
Ông Định kể, lúc đó đất nước bị chiến tranh, mọi sinh hoạt của cuộc sống đời thường bị đảo lộn hoàn toàn. Thế hệ trẻ như ông phải sinh sống, học tập dưới hầm, nên những câu chuyện về huyền tích Hội Rằm, thác Bụt, ông chủ yếu nghe người lớn kể lại, chứ chưa một lần được dự hội. Suốt hơn nửa đời người sinh sống và làm việc xa quê, mỗi khi nhớ quê, nhớ nhà, ông thường nhớ đến những phiên chợ rằm tháng ba. Gọi là chợ nhưng chỉ là nơi những người dân trong vùng đến để mua bán, trao đổi hàng hóa thiết yếu. Người nào có sản vật gì thì đem đến để bán hoặc đổi chác.
Thuở ấy, gia đình nào cũng rất nghèo. Mỗi khi đến phiên chợ rằm, thấy mẹ đi chợ, những đứa trẻ như ông lại háo hức, hồi hộp, mong ngóng đợi quà. Chút quà có khi là cây kẹo, tấm bánh, có khi chỉ vài thứ quả rừng. Nghèo nhưng đó là ký ức đằm sâu và rất nhớ. Nhớ những món ăn thuở đói nghèo, như món ốc đực và bồi, nay lại trở thành thứ đặc sản riêng có của vùng đất này. Ngày đó, ông 1 buổi đến trường, 1 buổi phải xuống khe suối mò cua, bắt ốc. Ốc đực lúc đó rất nhiều. Ốc đực bắt về luộc ăn kèm với bồi thay cơm.
Nói rồi, ông bảo: “Ngày nay, vẫn là cơm bồi ấy, nhưng sao mùi vị có vẻ như không giống hồi trước. Phải chăng lúc trước đói khổ, có được miếng ăn là rất trân quý. Ngày trước, để làm món bồi, nguyên liệu chỉ có ngô và sắn, chứ không độn thêm cơm nếp và xay bằng máy móc hiện đại như bây giờ. Người làm bồi cũng rất công phu, ngô được giã mịn, rồi đem ngâm nước theo tỉ lệ 3 sôi 2 nguội qua đêm. Đến hôm sau mới cho thêm sắn vào giã bằng tay cho thật nhuyễn và dính dẻo như keo”. Nghèo khó là thế, vậy mà ngày ấy ông Định học hành rất giỏi, được Nhà nước tuyển đi du học Sư phạm Ngoại ngữ ở Liên Xô. Ngày nay, tiếng tăm ông Đinh Công Định học giỏi vẫn được nhiều người Minh Hóa nhắc đến.
Không riêng gì ông Định, cứ đến dịp Hội Rằm tháng Ba, người Minh Hóa (cũ) chắc chắn ai cũng tha thiết, muốn về sống lại ký ức lễ hội nơi mảnh đất “chôn nhau cắt rốn” của mình. “Ai lên Minh Hóa quê mình/ Điệu hò thuốc cá, đượm tình quê hương”, “Chợ Sạt (chợ Quy Đạt ngày nay) một tháng ba phiên/ Không đi thì lỡ lời nguyền với em”.
D.C.Hợp









