.

Điểm tựa tâm linh của làng biển Cảnh Dương

 
 
 
 

Rằm tháng Chạp, trời mưa lất phất, gió từ cửa biển thổi hun hút vào Ngư Linh Miếu. Ông Hồ Quang Hường cẩn thận dỡ tấm bạt phủ lên 2 bộ xương cá voi khổng lồ, vừa làm vừa nói chậm rãi, như tự nhắc mình: “Phải bảo vệ các ngài như bảo vệ con ngươi của mắt mình”. Ông phân bua, mái bị dột, gặp mưa nên phải che bạt tránh nước làm hư hại.

 

Từ khi được giao trông coi Ngư Linh Miếu, gần 20 năm qua, ông Hường coi việc giữ gìn 2 bộ xương cá voi “Đức Ông” và “Đức Bà”-không chỉ là trách nhiệm, mà là một phần đời sống tâm linh của chính mình. “Ở làng biển này, cá voi không chỉ là loài vật. Người ta gọi các “ngài” là cá Ông, cá Bà, cá Cô, cá Cậu-như gọi một bậc bề trên đã gắn bó với biển Cảnh Dương suốt hàng trăm năm”, ông Hường chia sẻ.

 

Theo truyền khẩu của người làng, từ thuở lập làng cách đây khoảng 380 năm, thế hệ cha ông đã thấy 2 bộ xương cá voi khổng lồ này. Còn theo gia phả của dòng họ Trương ở làng Cảnh Dương, một bộ là "cá Ông" có từ đời vua Gia Long vào năm Kỷ Tỵ (1809) và bộ khác là của "cá Bà" năm Đinh Mùi (1907) có từ thời vua Duy Tân. Dân làng lưu truyền, từ nhiều đời trước, "Đức Ông" và "Đức Bà" đã lụy (chết), trôi dạt vào biển và được dân làng lập mộ chôn cất.

Theo ông Hường, các nhà nghiên cứu từng về lấy mẫu và xác định, bộ xương “Đức Ông” dài 28,8m, “Đức Bà” dài 28,5m, ước tính khi còn sống, nặng cả trăm tấn. Trải qua nhiều năm chiến tranh, chống Pháp, chống Mỹ, bộ xương được di chuyển nhiều nơi nên có hao mòn, thất thoát, giờ chỉ còn tầm 1/3 so với khối lượng ban đầu. Đến năm 2003, địa phương xây dựng Ngư Linh Miếu, rước 2 bộ xương về thờ phụng trang trọng.

 

Ngư dân Cảnh Dương tin rằng cá voi luôn che chở con người. Từ xa xưa, họ kể về những con tàu gặp bão tố, được cá voi dùng lưng nâng đỡ, kê tàu vào bờ an toàn. Bởi thế, không ai dám thất lễ. Cá voi dính lưới, ngư dân lập tức tìm cách thả ra, tuyệt đối không đưa về.

Thời đại công nghệ hiện đại, nghề biển vẫn tiềm ẩn những rủi ro. Ngay như việc ra vào cửa biển, có khi tàu bị mắc kẹt, đứt neo dạt bờ, người dân lại tìm đến Ngư Linh Miếu thắp hương, cầu xin tai qua nạn khỏi và được chở che, về bờ an toàn. “Chính bản thân tôi cũng từng trải qua”, ông Hường khẳng định.

 

Cách Ngư Linh Miếu không xa là nghĩa địa cá voi-nơi an nghỉ của 41 “ngài” đã từng lụy vào bờ Cảnh Dương. Gần 30 năm nay, bà Nguyễn Thị Mai lặng lẽ chăm sóc, hương khói cho nghĩa địa này.

Cẩn thận bày lễ, thắp nén hương trước những ngôi mộ giữa chiều gió lộng, bà Mai kể: Mỗi khi có cá voi lụy, dân làng tổ chức tang lễ, chôn cất chu đáo như đối với người thân. Cũng đầy đủ lễ 3 ngày, 50 ngày, 100 ngày, nửa khó, hết khó. Lễ vật tuy giản dị nhưng với tất cả sự thành tâm. “Ngư dân tin rằng, mỗi lần cá voi lụy vào và được chôn cất đàng hoàng, việc làm ăn lại thuận lợi, cả lộng lẫn khơi đều có lộc”, bà Mai cho biết.

 

Theo ông Nguyễn Tiến Nên, tác giả cuốn “Cảnh Dương tình đất-tình người”, tín ngưỡng thờ cá voi ở đây bắt nguồn từ tục thờ Nam Hải Đại tướng quân, có sự giao thoa với tín ngưỡng tại Đền Cờn (Quỳnh Lưu, Nghệ An). Trong Ngư Linh Miếu, 3 chữ lớn “HIỂN LINH NGƯ” đặt trang trọng ở vị trí trung tâm, thể hiện rõ cách người dân tôn thờ cá voi như một vị linh thần.

 

Ở Cảnh Dương, tục thờ cá voi gắn liền với lễ hội cầu ngư, được tổ chức vào rằm tháng Giêng hằng năm. Ngày hội, “trống treo, cờ mở”, dân làng tề tựu đông đủ, rước kiệu thành hoàng làng, dâng hương, tế lễ linh ngư và biểu diễn chèo cạn, hát bả trạo-những hình thức diễn xướng dân gian mang đậm hơi thở biển. Sau tiếng trống phát lệnh ra quân đánh bắt năm mới, tàu thuyền tấp nập ra khơi. “Dân làng coi đây là ngày hội tâm linh, cầu cho mưa gió thuận hòa, cá tôm được mùa, dân làng bình an, nước non thịnh vượng. Tổ chức được khâu tâm linh này, ngư dân mới yên tâm ra khơi, mới tin tưởng để buông câu thả lưới và thu năng suất cao”, ông Nên cho hay.

 
 

Cảnh Dương hôm nay là một làng biển đông đúc. Những con tàu lớn, công suất máy khỏe vươn khơi dài ngày, mang về hàng nghìn tấn hải sản mỗi năm. Nghề biển đã giúp nhiều gia đình đổi đời, nhà cửa khang trang hơn, con cái được học hành đầy đủ hơn. Nhưng giữa nhịp sống sôi động ấy, người Cảnh Dương vẫn giữ một thói quen không đổi. Trước mỗi chuyến ra khơi, người chồng đến Ngư Linh Miếu thắp nén hương, người vợ ra nghĩa địa cá voi khấn nguyện. Họ xin thần ngư hộ trì, giúp cho chuyến đi biển được may mắn, trời yên biển lặng, thuận buồm xuôi gió, “cá được, ruốc dày”. Không ai bảo ai, đó là cách để người đi biển tự nhắc mình rằng, ngoài sức người còn có biển cả với những điều linh thiêng không thể đong đếm. Niềm tin ấy giúp họ vững tâm buông lưới, bám biển dài ngày giữa trùng khơi.

 

Ngày nay, khi kinh tế biển phát triển, du lịch được mở hướng, những giá trị tín ngưỡng như tục thờ cá voi không chỉ là chỗ dựa tinh thần, mà còn là di sản văn hóa cần được gìn giữ. Như cách ông Hồ Quang Hường vẫn lặng lẽ che mưa cho 2 bộ xương cá voi mỗi khi mái miếu dột, người Cảnh Dương đang giữ gìn “linh hồn biển”-điểm tựa tinh thần giúp họ đứng vững trước sóng gió suốt bao đời.

 

Bài viết, ảnh: Hương Lê

Thiết kế và đồ họa: Xuân Hoàng - Hiền My