“Trồng người” nơi vùng đất khó. Bài 3: Gieo “quả ngọt”, gặt tri thức


Ngày cập nhật: 31/05/2019 06:46:25

> “Trồng người” nơi vùng đất khó. Bài 1: Những ngày đầu gian nan

 

>> “Trồng người” nơi vùng đất khó. Bài 2: Từ “bản trắng” giáo dục đến trường chuẩn, trò ngoan

 

(QT) - Vượt qua những khó khăn để đến trường, theo đuổi với con chữ, nhiều thế hệ học sinh người Vân Kiều, Pa Kô không chỉ được mở mang chân trời tri thức mà còn gặt hái được thành công trong công việc, đóng góp công sức để xây dựng bản làng mình ngày càng giàu đẹp hơn. Ý thức được việc học sẽ mang lại đổi thay cho cuộc sống của bản thân và quê hương, họ đã lan tỏa tinh thần học tập trong cộng đồng, xã hội, tiếp tục giúp học sinh vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn được đến trường và nuôi dưỡng ước mơ bay cao, bay xa...

 

Vươn lên tìm con chữ

 

“Nhà mình nghèo. Con có về thì nhà vẫn nghèo. Mẹ muốn con học đến khi mô không vô chữ nữa thì thôi”, anh Hồ Ngọc Tình, Trưởng Ban Dân vận Huyện ủy Hướng Hóa nhớ mãi câu nói của mẹ khi anh vội vàng nghỉ học, bắt xe từ thị xã Quảng Trị lên Khe Sanh, Hướng Hóa vì nghe tin ba mình đau nặng. Lời khuyên đó của mẹ đã giải thoát anh khỏi ý định bỏ học khi đang là học sinh lớp 7, Trường Thanh niên Dân tộc tỉnh Quảng Trị.

 

Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh Quảng Trị, “cái nôi” đào tạo nguồn nhân lực cho các huyện miền núi . Ảnh: LT

 

6 tháng trời ba anh nằm điều trị bệnh tại Bệnh viện Trung ương Huế, tài sản trong nhà mẹ đều bán hết để lấy tiền thuốc thang cho ba. Nhà có 8 anh chị em, ăn uống thiếu trước hụt sau, cái nghèo, cái khó cứ bủa vây gia đình anh. Đi học chỉ với một bộ áo quần, 2 - 3 bạn báo căng tin trường ăn một suất cơm/bữa để dành tiền mua dụng cụ học tập, xà phòng tắm giặt… Đến bây giờ anh vẫn không thể hiểu nổi sao mình có thể vượt qua những khó khăn, trở ngại của một học sinh vùng cao khi rời bản làng xuống thành thị học hành. Năm 1995, khi học lớp 10, anh Tình là học sinh đầu tiên của Trường Thanh niên Dân tộc Quảng Trị đạt danh hiệu học sinh giỏi toàn diện. Danh hiệu ấy không chỉ là sự ghi nhận những nỗ lực phấn đấu của cậu học trò vùng bản mà từ đó, mỗi tháng anh có thêm 200 ngàn đồng tiền học bổng để chi tiêu sinh hoạt. “Số tiền này chủ yếu tôi dành để mua sách vở và đi học thêm môn Anh văn”, anh Tình nhớ lại. Năm 1998, tốt nghiệp cấp 3, Hồ Ngọc Tình là một trong hai học sinh của huyện Hướng Hóa thi đậu vào Khoa Toán, Trường Đại học Sư phạm Huế với 25,5 điểm. Tuy vậy, đến lúc này anh mới thật sự thấm thía hệ lụy của sự nghèo khó từ gia đình mình. Vào trường nhập học chưa đầy một tuần, anh phải trở về quê vì không còn tiền chi tiêu ăn ở. May thay, vài năm sau nhờ chính sách đào tạo cử tuyển dành cho con em vùng đồng bào dân tộc thiểu số mà anh được vào học ở Trường Đại học Kinh tế Huế. Dù phải làm thuê đủ việc từ rửa bát, dọn dẹp vệ sinh đến dạy kèm… anh vẫn đạt những thành tích đáng nể trong quá trình học hành ở quãng đời sinh viên của mình. Vì vậy, năm thứ 2 đại học, anh vinh dự được kết nạp Đảng tại trường. Vừa đi học, vừa đi làm thêm, không chỉ lo cho bản thân, anh Tình còn dìu dắt, hỗ trợ các em mình cùng theo đuổi ước mơ con chữ. Nhờ vậy, gia đình anh có 6/8 người được ăn học đến nơi, đến chốn nay đều trưởng thành, có việc làm ổn định.

 

Để có được vị trí như ngày hôm nay, ông Hồ Văn Nhiếp, Chủ tịch UBND xã Tà Rụt, huyện Đakrông nhận thấy mình phải rất nỗ lực và thật may mắn khi học hành đến nơi, đến chốn. Nhớ lại buổi đầu cắp sách đến trường, ông Nhiếp cho hay, do hoàn cảnh khó khăn nên phải đến 9 tuổi, ông mới bắt đầu đi học lớp 1. Tuy vậy, con đường học hành mới bắt đầu đã đầy chông gai. Để hoàn thành hết chương trình tiểu học, trong giai đoạn từ lớp 3 đến lớp 5, ông phải gián đoạn việc đến trường 3 lần. “Với một địa bàn xã vùng biên giới như xã Tà Rụt vào những năm đầu 90 của thế kỉ XX, để theo học con chữ, mỗi học sinh phải vượt qua rất nhiều trở ngại. Không chỉ thiếu ăn, thiếu sách vở, áo quần rồi mỗi ngày phải băng rừng, lội suối hàng chục cây số để đến trường, mà còn vì quan niệm “không cần nhiều chữ” ăn sâu trong nếp nghĩ của những thế hệ dân bản trước đây. Không có động lực, cộng với cuộc sống quá cực khổ nên bạn bè cứ lần lượt bỏ học. Không đủ học sinh đến lớp nên giáo viên cũng nghỉ dạy. Cứ vậy, học xong lớp 3 rồi mà phải trầy trật thêm 3 năm nữa tôi mới tốt nghiệp được tiểu học”, ông Nhiếp nhớ lại.

 

Được học hành bài bản lại nhiệt tình, năng nổ, đến năm 2015, ông Nhiếp được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch UBND xã Tà Rụt. Ông đã vận dụng linh hoạt sự hiểu biết của mình vào công tác điều hành, chỉ đạo công việc của địa phương để xây dựng xã Tà Rụt phát triển hài hòa giữa lĩnh vực nông nghiệp với dịch vụ, thương mại. Bên cạnh việc duy trì diện tích gieo trồng trên 650 ha đất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực cho người dân trên địa bàn xã, khuyến khích người dân phát triển chăn nuôi trâu, bò, dê, lợn, gia cầm… ông Nhiếp nhận thấy những bãi bồi nằm dọc theo triền sông Đakrông, đi qua địa bàn các bản như A Liêng, Vực Leng, A Đăng… người dân chỉ độc canh cây sắn KM94 hiệu quả mang lại không cao, nên đã vận dụng kiến thức được học từ ngành Nông nghiệp ở Phân hiệu Đại học Huế để chỉ đạo đưa giống ngô lai LVN 10 vào trồng thử nghiệm, làm cơ sở chuyển đổi diện tích đất trồng sắn ở những bãi bồi trên sang trồng ngô lai. Dần dần ngô lai trở thành một trong những cây trồng chủ lực ở xã Tà Rụt. Ông Nhiếp còn vận động người dân tận dụng lợi thế từ tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua địa bàn xã để phát triển thương mại, dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của người dân trong xã và một số xã lân cận. So với mặt bằng chung của huyện Đakrông, xã Tà Rụt là địa phương phát triển được đa ngành nghề, cuộc sống của người dân khấm khá hẳn.

 

Với vai trò là “cái nôi” đào tạo nguồn cán bộ các dân tộc thiểu số, Trường Thanh niên Dân tộc tỉnh Quảng Trị được tách ra từ Trường Thanh niên dân tộc Bình - Trị - Thiên sau ngày lập lại tỉnh, đến năm 1992 đổi tên thành Trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Quảng Trị. 30 năm qua, từ ngôi trường này đã có 1.853 học sinh ra trường, trong đó có gần 1.000 học sinh tiếp tục theo học ở các trường đại học, cao đẳng trong nước. Hàng chục thế hệ học sinh người đồng bào dân tộc thiểu số đã trưởng thành, đem vốn hiểu biết về phục vụ quê hương, bản làng. Thầy giáo Dương Mạnh Hùng, Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh chia sẻ thêm: “Rất nhiều học sinh của trường đã tiếp tục học lên cao hơn để trở thành cán bộ chủ chốt, có năng lực, uy tín của địa phương. Có em là kĩ sư, bác sĩ, giáo viên… cũng có nhiều em trở về quê xây dựng làng bản và trở thành cán bộ chủ chốt ở các cấp. Điển hình như Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy Ly Kiều Vân; Phó Trưởng Ban Dân tộc HĐND tỉnh Hồ Quốc Hương; Phó Bí thư Huyện ủy Đakrông Hồ Văn Dương; Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy Hướng Hóa, đại biểu Quốc hội khóa XIV Hồ Thị Minh…”.

 

Mỗi cán bộ là người đồng bào dân tộc thiểu số mặc dù có tuổi đời, tuổi nghề và vị trí công tác khác nhau nhưng họ đều có điểm chung đó là, với kiến thức được đào tạo bài bản cùng với sự am hiểu về truyền thống văn hóa bản địa là điều kiện thuận lợi để họ dễ dàng tiếp xúc và nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đồng bào dân tộc thiểu số, nhờ vậy đã phát huy năng lực, uy tín trong cộng đồng dân cư.

 

Lan tỏa tinh thần học tập

 

Từ bản thân mình, anh Hồ Ngọc Tình hiểu rằng với người đồng bào dân tộc thiểu số, cái khó nhất cần vượt qua đó là tự ti, mặc cảm, không dám ước mơ, không dám vươn lên thực hiện ước mơ. Bây giờ nhìn lại, anh thấy mình đã vượt qua những nỗi sợ hãi ấy. “Hồi đó tôi đeo đuổi học hành không phải vì ý nghĩ học để sau này làm lãnh đạo mà chỉ nghĩ học để có kiến thức, để thay đổi cuộc sống bó hẹp nơi bản làng của mình. Và sự thật tôi đã thực hiện được ước mơ ấy”, anh Tình bộc bạch. Thời còn làm Phó Bí thư Đảng ủy xã Hướng Linh, anh luôn trăn trở vì chuyện học sinh bỏ học nửa chừng. Nghe con em bản nào nghỉ học, xa xôi cách trở mấy anh cũng tìm đến tận nhà để tìm hiểu, động viên. Bây giờ đi đâu, nói gì, làm gì anh cũng gắn với khuyến học, khuyến tài, lan tỏa tinh thần học tập trong cộng đồng người dân tộc thiểu số. Có lẽ vì vậy mà sau khi trải qua rất nhiều vị trí công tác, đến bây giờ là Trưởng Ban Dân vận Huyện ủy Hướng Hóa, anh Tình luôn là người có uy tín, tạo dựng được niềm tin và trở thành tấm gương sáng về tinh thần học tập để bà con dân bản noi theo. Anh nhớ mãi lần vào thôn Cu Vơ vận động một em học sinh lớp 2 bỏ học. Lúc bấy giờ vì đường sá đi lại rất vất vả nên chuyến đi ấy anh phải ở lại 2 ngày trong bản. Tìm hiểu nguyên nhân anh mới biết em này bỏ học vì vừa đi học, vừa chăn trâu để trâu ăn lúa, bị dân bản bắt vạ, người cha tức giận bắt em bỏ học ở nhà chăn trâu. Để thuyết phục phụ huynh học sinh này, anh Tình đã ở lại qua đêm trong nhà ông Cuôn, một người có uy tín trong bản chuyện trò, tâm sự. Anh kể cho ông Cuôn nghe về tuổi thơ của mình đó là hằng ngày ngoài đi học phải lên rẫy rọc lá chuối, tối về xếp lá, trời tờ mờ sáng đã dậy địu lá ra chợ bán xong mới đi bộ đến trường học. Anh cũng kể nhiều câu chuyện vất vả nữa trên hành trình tìm con chữ của mình để có được như ngày hôm nay. Đồng cảm với những chia sẻ của anh, sáng sớm hôm sau, ông Cuôn đã đưa anh Tình đến nhà em học sinh nọ và vận động được người cha đồng ý cho con quay lại trường. Không chỉ vậy, sau này ông Cuôn còn là một tuyên truyền viên tích cực trong việc vận động học sinh tới trường ở thôn Cu Vơ.

 

Tặng xe đạp, hỗ trợ học sinh vùng núi đến trườngẢnh: LT

 

Cũng từng trải qua những tháng ngày rất gian khổ để được đi học chữ nên bây giờ bà Hồ Thị Cam, Bí thư Đảng ủy xã Tà Long, huyện Đakrông luôn quan tâm, tạo điều kiện khuyến khích tinh thần học tập của con em địa phương. “Mỗi khi có học sinh bỏ học hay có ý định bỏ học, nhà trường phải báo cáo nhanh cho Hội đồng giáo dục xã để kịp thời vào cuộc vận động, tuyên truyền, hỗ trợ học sinh quay lại trường”, đó là một trong những yêu cầu đầu tiên bà Cam đưa ra trong BCH Đảng bộ xã Tà Long khi tiếp nhận công việc để chấn chỉnh tình trạng học sinh bỏ học nửa chừng ở địa phương này. Cùng với đó, bà Cam đôn đốc chỉ đạo cấp ủy, chính quyền, các hội, đoàn thể trong xã tranh thủ các mối quan hệ quen biết, vận động kêu gọi các nguồn tài trợ tặng các suất học bổng, xe đạp… tiếp sức học sinh đến trường. Tà Long là địa bàn vùng biên giới, có 9 thôn với 542 hộ, kinh tế chủ yếu là sản xuất nông - lâm nghiệp nhỏ lẻ nên đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, nhờ những biện pháp cụ thể trong việc khuyến học của BCH Đảng bộ xã và vai trò tác động của người đứng đầu, nhận thức về việc học tập của người dân ở đây đã không ngừng tăng lên, chất lượng giáo dục từng bước được cải thiện. Phong trào xây dựng các mô hình học tập, đặc biệt là mô hình “Cộng đồng học tập cấp xã” đã tác động tích cực đến chất lượng giáo dục, trình độ dân trí của người dân trên địa bàn xã. Hiện trên địa bàn xã 3 đơn vị, 8/9 thôn đều đăng kí xây dựng mô hình “Cộng đồng học tập”.

 

Ngày nay, người dân huyện nghèo Đakrông quan tâm đến việc học hành của con em bắt đầu từ những suy nghĩ rất thiết thực như phong trào hiến đất xây dựng trường, lớp. Công trình điểm Trường Mầm non thôn Tà Rụt 2, xã Tà Rụt là một ví dụ. Ngôi trường này được xây dựng trên phần đất do ông Hồ Đức Căng hiến tặng. Nhờ có diện tích đất này mà địa phương đã tranh thủ nguồn vốn đầu tư của một tổ chức phi chính phủ để xây dựng ngôi trường khang trang cho con em học hành. “Nhìn các cháu học tập ở một nơi sạch sẽ, khang trang, tôi thấy rất vui mừng. Vậy nên dù mảnh đất của gia đình cũng có giá trị kinh tế khi trồng rừng, trồng sắn nhưng tôi sẵn sàng hiến để xây dựng trường học cho các cháu. Đời mình, cha ông mình nghèo khó, không có trường để học nên vất vả, không biết chữ, giờ nhà nước đầu tư trường học cho con em biết chữ thì mình hiến đất để có nơi xây trường là việc nên làm mà”, ông Căng chia sẻ.

 

Để lan tỏa tinh thần khuyến học, khuyến tài, huyện Hướng Hóa xây dựng các mô hình khuyến học như: “Gốc chuối khuyến học”, “Gốc tiêu khuyến học”… Theo đó, mỗi gia đình trên địa bàn huyện đều trồng mỗi bụi, khóm chuối, tiêu và chăm sóc kĩ lưỡng đến khi thu hoạch. Số tiền thu được từ bán chuối quả, tiêu hạt sẽ dùng làm tiền quỹ phục vụ cho công tác khuyến học tại địa phương. Những mô hình khuyến học giản dị nhưng rất gần gũi, thiết thực này đã mang lại hiệu ứng tích cực, góp phần cổ vũ, nhân rộng tinh thần hiếu học đến từng bản làng xa xôi của huyện miền núi Hướng Hóa. Bằng chứng cụ thể là tỉ lệ học sinh chuyên cần đến trường ở vùng bản huyện này, trước đây chỉ đạt 1,3%, vùng kinh tế mới 58% thì nay đã vươn tới con số trung bình từ 95% trở lên.

 

Từ gian khó, con chữ đã và đang hiện thực hóa những ước mơ vươn tới cuộc sống tốt đẹp của bao mảnh đời ở những bản làng xa xôi.

 

 Lâm Thanh-Thanh Trúc -Hoài Hương

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC
Copyright 2019 by BÁO QUẢNG TRỊ