Nâng cao hiệu quả quản lí về đa dạng sinh học


Ngày cập nhật: 22/05/2019 06:01:17

(QT) - Quảng Trị nằm trong khu vực có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao, nơi có khu hệ thực vật, động vật đa dạng, độc đáo với nhiều nguồn gen quý hiếm. Hiện nay tỉnh cũng đã thành lập được các khu bảo tồn thiên nhiên trên cạn; khu bảo vệ cảnh quan và khu rừng đặc dụng... Đây là các khu vực đặc trưng cho ĐDSH, đa dạng hệ sinh thái rừng, biển đảo của tỉnh.

 

Cán bộ, nhân viên Sở Tài nguyên và Môi trường khảo sát tính đa dạng sinh học ở Khu BTTN Bắc Hướng Hóa​

 

Những năm qua, công tác phổ biến, tuyên truyền Luật ĐDSH và các hoạt động giáo dục, đào tạo được tăng cường nhằm nâng cao nhận thức về bảo tồn ĐDSH. Qua các đợt tập huấn đã nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kĩ năng hiện trường, kĩ năng phần mềm phục vụ hiệu quả công tác quản lí, bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn ĐDSH, đồng thời nâng cao vai trò, trách nhiệm của cộng đồng dân cư. Bên cạnh đó, công tác bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên luôn được chú trọng. Trong đó, tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả công tác bảo vệ hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái biển. Chỉ đạo các cơ quan, ban ngành phối hợp triển khai giám sát, thực hiện các chương trình, dự án nhằm nâng cao và phát huy giá trị ĐDSH, góp phần bảo tồn đa dạng các hệ sinh thái. Trong đó, phải kể đến dự án BCC đã hỗ trợ người dân trồng rừng phục hồi, rừng sinh kế và lâm sản ngoài gỗ tại địa bàn 2 huyện Đakrông, Hướng Hoá với tổng diện tích 1.427,3 ha; đồng thời thiết lập Hành lang ĐDSH kết nối 2 Khu BTTN Đakrông, Bắc Hướng Hoá. Hay dự án BCC-GEF hỗ trợ các BQL Khu Bảo tồn, các thôn trong các khu bảo tồn, vùng đệm nhằm quản lí, giám sát diễn biến ĐDSH, nâng cao năng lực, cải thiện hoạt động tuần tra rừng của cán bộ kiểm lâm, cán bộ bảo vệ rừng, xây dựng kế hoạch quản lí các khu bảo tồn... nhờ đó đã nâng cao hiệu quả trong việc bảo tồn đa dạng hệ sinh thái theo hướng bền vững.

 

Bên cạnh công tác bảo tồn thì việc phát triển hệ sinh thái tự nhiên cũng rất được quan tâm. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học về địa chất, địa mạo, ĐDSH được thực hiện đã đề xuất các giải pháp phục vụ công tác bảo tồn, phát triển hệ sinh thái... Đối với hệ sinh thái biển chưa có các nghiên cứu sâu và điều tra tổng thể về ĐDSH biển nên đến nay chỉ mới có các nghiên cứu để thành lập Khu bảo tồn biển Cồn Cỏ và các nghiên cứu về loài. Công tác tuần tra, kiểm tra rừng và hoạt động tháo gỡ các loại bẫy động vật hoang đã được chú trọng, thực hiện tốt công tác cứu hộ và thả về môi trường tự nhiên các loài động vật hoang dã. Tăng cường kiểm soát loài ngoại lai xâm hại như cây mai dương, ốc bươu vàng...Công tác lưu giữ, bảo quản vật di truyền, đánh giá nguồn gen, quản lí thông tin về nguồn gen đã được thực hiện. Hiện nay đã lưu trữ được 300 mẫu thực vật, 23 mẫu động vật cạn, 50 mẫu vật các loài hải sản.

 

Tuy nhiên hiện nay việc quản lí khu bảo tồn có nhiều bất cập. Ngành tài nguyên- môi trường chỉ được giao quản lí đa dạng sinh học chung, trong khi quản lí các khu bảo tồn thiên nhiên (các khu vực có đa dạng sinh học cao, quan trọng) thuộc ngành nông nghiệp. Mặt khác, việc quản lí khu bảo tồn dựa trên cách thức tiếp cận tổng quát là quản lí phong phú về gen, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên, trong khi quản lí các khu bảo tồn theo hướng quản lí rừng đặc dụng dựa trên cách thức tiếp cận hẹp hơn là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường như một số loài cây thân gỗ, tre, nứa... đã gây khó khăn, chồng chéo trong quản lí. Do đó, cần bổ sung quy định về trách nhiệm quản lí trong luật hoặc văn bản dưới luật về quản lí các khu bảo tồn thiên nhiên thống nhất và xem xét điều chỉnh cơ quan quản lí các khu bảo tồn cho hợp lí. Các quy định về gây nuôi động vật hoang dã hiện hành chưa đầy đủ và chưa tính đến năng lực quản lí, kiểm soát của các cơ quan chức năng, chính vì vậy đã tạo ra kẽ hở nhằm “hợp pháp hoá” các loài hoang dã khai thác, đánh bắt từ tự nhiên, đặc biệt là động vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm, sau đó lưu thông hợp pháp trên thị trường. Việc cấp giấy chứng nhận cơ sở bảo tồn ĐDSH theo Luật ĐDSH có nhiều điểm chồng chéo, trùng lặp. Chưa có quy định cụ thể về chế độ tài chính phục vụ cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH. Văn bản quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo tồn ĐDSH chưa thống nhất…

 

Vì vậy, để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý về ĐDSH trước hết cần phải hoàn thiện thể chế; thống nhất các quy định giữa các văn bản pháp luật liên quan; nghiên cứu sửa đổi đồng bộ các quy định có sự chồng chéo về thẩm quyền quản lí ĐDSH trong Luật ĐDSH, Luật Lâm nghiệp, Luật Thuỷ sản và các luật có liên quan khác để quản lí ĐDSH được toàn diện và hiệu quả. Quy định chặt chẽ hoạt động gây nuôi thương mại đối với động vật hoang dã, đặc biệt hoạt động gây nuôi thương mại đối với các loài động vật nguy cấp, quý hiếm, cần được ưu tiên bảo vệ, duy trì, phát triển. Kiện toàn cơ cấu tổ chức, bổ sung biên chế và nâng cao năng lực cho đội ngũ thực hiện nhiệm vụ quản lí ĐDSH nhằm đáp ứng hơn nữa yêu cầu và mục tiêu đối với nhiệm vụ bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH trong tình hình hiện nay. Dành kinh phí cho các hoạt động điều tra, đánh giá tổng thể về ĐDSH; xây dựng cơ sở dữ liệu về ĐDSH làm cơ sở khoa học phục vụ công tác quản lí. Tăng cường đào tạo, tập huấn nâng cao chuyên môn nghiệp vụ nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu đối với công tác bảo tồn và phát triển ĐDSH. Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư về bảo tồn ĐDSH. Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, đơn vị có liên quan về công tác quản lí ĐDSH. Thống nhất và chi tiết hơn quy định về xử lí vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ĐDSH nhằm tăng cường tính răn đe, ngăn ngừa các hành vi xâm hại đến ĐDSH.

 

Hồ Nguyên Kha

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC



Lượt truy cập



Trực tuyến





Copyright 2019 by BÁO QUẢNG TRỊ