Nơi bài học yêu thương bắt đầu


Ngày cập nhật: 03/09/2018 14:45:57

(QT) - Tôi đã không bao giờ trở thành cô giáo, nếu ngày ấy, trong danh sách lứa học trò mới đậu vào lớp 10 Trường PTTH Đông Hà không có tên tôi, bằng một sự tình cờ, khi tôi đi thi vượt cấp chỉ đơn giản vì đi cùng cô bạn thân, để cô ấy yên tâm làm bài. Và sự tình cờ ấy lại là định mệnh, khi tôi đậu tiếp vào lớp chuyên Văn, qua sự chỉ bày của một người thầy đáng kính giữa trưa nắng lóc cóc đạp xe đến nhà bảo tôi điền tên vào tờ đơn đăng ký dự thi.

 

Lớp 12 K của chúng tôi ngày đó chỉ toàn con gái

 

Những tình cờ định mệnh như thế, trong suốt cuộc đời tôi, như có một con đường được cao xanh nào đó bền bỉ âm thầm rọi xuống, cho bước chân thơ dại tôi lẫm chẫm đi vào.

 

Hoa điệp vàng trên con đường Hùng Vương còn lô nhô đất đỏ ngày ấy đã bắt đầu trổ bông. Những tàng hoa khẽ khàng nhú lên, dậy thì từng ngày một, hút lấy tâm trinh của đứa con gái mới rậy ràng chớm sữa đôi má hây non. Mở khép làn mi, tôi ôm trọn màu vàng thanh tân của con đường điệp vàng đầu tiên trên mảnh đất giàu nắng gió ấy đi vào cổng trường cấp ba Đông Hà, làm một cô nữ sinh chuyên Văn với tất cả tình cảm non tơ ngây thơ và lộng lẫy nhất. Với tôi lúc ấy, được làm nữ sinh chuyên Văn là một món quà đẹp nhất trong cuộc đời.

 

Ai đã từng gắn bó với ngôi trường cấp ba này, hẳn không bao giờ quên những gốc phượng ở sân sau của trường. Những gốc cây ngày ấy vừa chớm tuổi hoa niên, cành cây vươn ra mạnh mẽ như dáng bộ của chàng trai mười bảy đầy rạo rực sung sức, lại trở thành điểm tựa cho bọn học trò lí lắc leo lên ngả lưng thõng chân xuống sân trường mỗi trưa ở lại. Hình như mỗi khóa học trò, khi ra trường, ai không kịp chụp một tấm ảnh lưu niệm bên gốc cây ấy cùng bạn bè, thì như thể chưa chia tay được với người tình chung thủy. Sau này, mỗi dịp về lại trường, tôi thường đứng xa xa ngó tới, nhìn cội cây đã già hơn, nhưng tàng lá vẫn xanh um đầy đặn, chồi non vẫn bật lên và những bông phượng vẫn vô tư thả mình trong gió mà không nề hà nền đất năm xưa hay nền xi măng thời hiện đại, mới hay cây ơi sao hào hiệp, cớ chi lòng tôi lấn cấn cũ mới xưa nay làm bận tâm trí mà không cho đứa con gái tóc xanh thuở ấy được về sống lại chút tình thơ ngây thuở làm Ngọ cho ai bụi đỏ mỗi trưa nắng đi theo.

 

Trường tôi hồi đó vừa được xây dựng khang trang trên vạt đồi cao, màu xanh dương nhạt lẫn vào hàng phi lao tạo nên một hình ảnh vừa nên thơ, vừa mạnh mẽ. Nhưng lứa chúng tôi chỉ được học ở đó 1 học kỳ của năm lớp 10, sau đó chuyển xuống dãy nhà cấp bốn lợp mái tôn để nhường cho các lớp khác có sĩ số đông hơn. Chúng tôi như những con sẻ nâu tung tăng nơi góc trường phía sau, hạnh phúc và sung sướng bởi nơi đó xa khu vực trung tâm hiệu bộ, hẳn nhiên cũng ít “bị thầy cô nhòm ngó”. Vì vậy, phải nói rằng đó là một thiên đường thời áo trắng của những cô bé chuyên văn nghịch ngợm lắm chiêu trò. Làm sao quên được những bóng cây trưa nắng lủng lẳng những chiếc dép tông Lào được treo lên đó giấu bọn con trai đang mải mê giải toán mà thả dép co chân lên ghế, khi tìm ra lời giải quờ chân xuống gầm bàn tìm dép thì hỡi ôi nó đã không cánh mà bay lên đọt cây. Và nơi góc tường ố vàng vệt bầm vệt lở của tháng năm, là bà o già với gánh chè nghèo tội nghiệp vẫn chờ lũ học trò mỗi trưa gió Lào khát cháy ùa ra từ cửa lớp. Lũ chúng tôi hồi đó đa phần nghèo. Hơn nửa khóa là tập hợp tứ xứ từ các huyện lên, ở nhà nội trú, ăn cơm tập thể. Nên những ly chè giản dị chỉ được nấu bằng đậu xanh đậu đỏ với đường bát đen thùi lùi là món ăn sánh với cao lương mỹ vị thời nay. Nhưng buồn cười nhất là gánh chè của bà o nó nghèo đến nỗi, bà không bao giờ đủ ly để múc bán cho khoảng chục khách hàng một lúc. Dù bọn học trò có tranh giành nhau đến đâu, o cũng chỉ múc được cho 5-7 đứa một lần. Thành thử, chúng tôi hay có cái trò nghe trống tan học là ù chạy thật nhanh về nội trú chỉ để giành ly ăn chè trước. Những cái ly to ly nhò sứt sẹo nhiều mảnh nứt, sao mỗi khi nhắm mắt nhớ về, lòng tôi lại dịu dàng ngọt ngào đến thế.

 

Và chúng tôi lớn lên, hẳn nhiên, không bao giờ quên được những người thầy thầm lặng đưa đò thuở ấy. Mỗi người thầy dạy cho chúng tôi một lĩnh vực kiến thức, nhưng điều quan trọng hơn, đó là gieo cho chúng tôi những hạt mầm nhân cách. Tôi nhớ thầy Thảo Nguyên lãng tử hào hoa bao dung bầy con gái với tấm lòng của ông bố trẻ. Tôi nhớ thầy Hạnh dạy tiếng Anh bao giờ cũng nhìn chúng tôi cười trêu lũ học trò dốt mà tinh nghịch. Tôi nhớ thầy Cư luôn bất lực nhìn lên trần nhà khi bọn con gái cân bằng hóa trị bằng niềm tin. Tôi nhớ thầy Sáu là người đầu tiên “đăng” bài thơ đầu tay của tôi lên bảng tin góc trường. Tôi nhớ thầy Thạnh, thầy Tuấn dạy thể dục như những người anh trai lớn của chúng tôi. Tôi nhớ cô Cam dạy địa lý thật nhẫn nại khi gọi chúng tôi lên bảng vẽ bản đồ. Và những buổi trưa nắng đỏ sân trường, chúng tôi vẫn nán lại say sưa hát nhạc Trịnh với cô Quỳ yêu dấu. Hay có lúc lên bảng dỗi hờn không chịu đọc bài cũ môn Sinh với cô Ngọc Anh. Bao nhiêu hoa mộng, bao nhiêu kỉ niệm tươi xanh đầy ắp trong tôi mỗi lúc nhớ về trường cũ.

 

Tôi cũng không bao giờ quên cái chắp tay đĩnh đạc, đôi mắt quắc thước, giọng nói sang sảng sắc bén của thầy chủ nhiệm chúng tôi suốt ba năm học, thầy Lê Ngọc Minh. Tôi chưa nghe người học trò nào đã từng được học với thầy nói một tiếng dễ dàng cả. Nhưng tôi luôn nghe những lời kính trọng dành cho thầy mỗi khi nhắc đến. Suốt ba năm học, thầy chưa nói một lời ngọt, chưa dỗ một đứa học trò hư, cũng như không hề rao giảng một lời giáo lý đạo đức nào. Nhưng mỗi đứa học trò khi đã học với thầy, đều nhìn vào ánh mắt, gương mặt, lối sống và hành xử của thầy, để tự mình lấy đó làm điều răn. Đặc biệt, tôi cũng đã học được ở thầy lòng từ bi, không phải từ những ân cần thường thấy trong cách đối đãi hằng ngày như người ta, mà là sự dõi trông theo từng lứa học trò hun hút ngái xa. Lớp của thầy toàn con gái, thầy sợ đứa này đa đoan, đứa kia bạc mệnh, đứa nọ hồng trần. Nên mỗi khi về ngồi lại, cứ thấy lòng thầy thấp thỏm không yên khi nhắc đến những đứa xa lâu ngày không gặp mặt. Làm một người học trò, mà gần hai mươi năm ra trường theo chồng lo con đi biệt, làm sao tôi không khóc như trẻ thơ khi mùa mưa lụt đến, nghe tiếng chuông điện thoại reo, nhấc máy lên đã nghe tiếng của thầy: “T. ơi, thầy nghe bảo Huế lụt lớn lắm, chỗ nhà em ở có sao không?”.

 

Yêu thương là thế, chứ lớn lao gì đâu. Tôi theo thầy nghề giáo, chữ nghĩa ngày một bồi đắp thêm, nhưng bài học về yêu thương năm xưa tôi nhận được từ thầy, học mãi đến giờ vẫn chưa hết. Thì làm sao lòng tôi không xanh tươi như ngày cũ, mỗi khi được trở về bên mái trường cấp ba Đông Hà dấu yêu.

 

Đông Hà

 Liên hệ - Góp ý  Quay lại!

Bình luận của bạn:

Bình luận bạn đọc (0)

CÁC TIN KHÁC



Lượt truy cập



Trực tuyến





Copyright 2018 by BÁO QUẢNG TRỊ